Hồ Xuân Hương – nữ sĩ của mọi thời đại
Trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa một nhà thơ nào có được cái may mắn đặc biệt như nữ sĩ Xuân Hương.
Bỏ qua một bên những ý khen chê của khoa phê bình nghiêm ngặt, những thị phi nhỏ hẹp của cõi người, như một lẽ thường còn, thời gian vẫn song hành cùng Xuân Hương và bạn đọc, do nỗi khát khao của nhiều thời đại, vẫn tìm thấy ở Xuân Hương một huyền thoại mãi mãi xanh tươi .
Minh hoạ cho “thơ nôm truyền tụng” phải là cả một bộ tranh khắc rất đẹp của họa sĩ Lê Lam. Ở đây ta có thể thấy một đất trời và một nàng Xuân Hương ung dung bước ra khỏi cổ nguyệt đường, tảng lờ như không phải là tác giả của bao nhiêu “gió mây trăng nước” trong “Lưu Hương Ký” và cả những e ấp, những giấc mơ những chạnh lòng của một nữ lưu trước Nguyễn Du – con trai thứ của quan thái tể, vị cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu – phóng thích và tự giải thoát khỏi mọi thứ thơ thù tạc xướng hoạ ép vần. Xuân Hương trở thành một nhà thơ cao hơn nhà thơ, một nữ thi sĩ cao hơn thi sĩ: nữ thi sĩ của nhân dân và của tự do.
Có đáng kể gì những lời xuyên tạc, những trò đùa ác.
Xuân Diệu nói: “Xuân Hương là hương ngát của mùa xuân”. Có lẽ đương thời, những nho sĩ, những người đàn ông, những nhà thơ dân dã đã mượn hương trong thơ Xuân Hương, đã mượn “gió mây trăng nước” của nàng để phóng tác ra một Xuân Hương phơi phới xuân tình, làm lu mờ cả cổ nguyệt đường và “Lưu Hương Ký”. Ai dè con đường phóng tác đó đã chế tác ra cả một nàng Xuân Hương trẻ trung, nghịch ngợm, bỡn cợt, bi thảm và nổi loạn; một Hồ Xuân Hương khiến người ta phải ngơ ngẩn trước một cuộc cách mạng trong thi ca và trước một vẻ sexy hoá táo bạo trong nghệ thuật. Nó vừa hiện tiền, vừa tiên cảm, vừa định vị cho một cuộc đảo lộn giá trị để khẳng định quyền sống của người phụ nữ và những giá trị mới.
Và nếu như bỏ qua mọi đàm tiếu, mọi dung tục cố ý, đọc Xuân Hương trong sự thanh lọc và sự thăng hoa của nghệ thuật thi ca, sẽ cảm nhận hiện thân toàn vẹn của một nàng Xuân Hương trong trắng và một người đàn bà đơn độc, đắm đuối, điên dại, bi luỵ, rực lửa và đẹp mê hồn. Cho đến nay, đã hơn hai trăm năm, sự cộng chung những phẩm cách, những cá tính trong một Xuân Hương, một nữ thi sĩ thế kỷ XVIII vẫn là một câu đố chưa có lời giải. Có cần truy xét và làm cho ra nhẽ đâu là Xuân Hương thật và đâu không phải Xuân Hương? Bởi như vậy dân tộc và nhân dân có thể sẽ mất một Xuân Hương; và bởi vì cuộc sống cần Xuân Hương với những giá trị lấp lánh và nhất là tiếng cười trẻ trung bất tuyệt của nàng:
“Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Chúng bảo nhau rằng: ấy ái uông!”
Và để phần vĩ thanh kết trọn được một vòng, xin gửi lại độc giả bài “Hồ Xuân Hương và cuộc cách mạng chất liệu trong thi ca” – được viết từ mười năm về trước. Cũng là một cách nhớ về một nhà thơ, một người đàn bà mà cuộc sống, nhân cách, số phận và tài năng đã trở thành huyền thoại của mọi thời đại.
Nhà thơ Xuân Diệu, trong một công trình nổi tiếng: “Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm” đã khẳng định Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc nhất trong văn học Việt Nam và có lẽ cũng là hiện tượng độc nhất trong văn học thế giới. Vậy là phải hơn hai trăm năm, Hồ Xuân Hương mới gặp được “con mắt xanh” trong cõi trời và cõi đời thơ của bà. Có những hoạ sĩ thời hiện đại đồng thời là những người yêu thơ Hồ Xuân Hương đã hình dung bà trong dáng vẻ uy nghi, giàu nghị lực, tràn đầy và say đắm. Hồ Xuân Hương phân thân trong những bài thơ, đem vào thơ cuộc đời và làm đọng lại trong thơ nỗi buồn sầu cô lẻ, tiếng cười long lanh vui vẻ, sự phấn khích sự phá phách và cả những khát vọng cá nhân không được thoả mãn trong suốt cuộc sống thanh xuân của bà. Tính cách của Hồ Xuân Hương đa dạng đến nỗi tưởng chừng có những ngòi bút góp lại trong thơ bà.
Hậu thế biết rất ít về cuộc đời hồ Xuân Hương. Chúng ta chỉ biết những nét đại thể về cuộc đời Hồ Xuân Hương. Nhưng có lẽ đó cũng là những nét lớn tạo thành cội nguồn của những vần thơ Xuân Hương và bản lĩnh con người bà.
Hồ Xuân Hương chịu cảnh lẽ mọn, mà chịu đến hai lần. Rồi cả hai lần chồng chết. Cảnh ngộ đó đã khiến bà viết những bài thơ như “Làm lẽ”, “Khóc Tổng Cóc”, “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường”, “Tự tình”, “Mời trầu”…. Chắc chắn trong cuộc đời tâm hồn Hồ Xuân Hương còn dành chỗ cho những mối tình khác. Và chắc chắn, nhiều khi bà đã không được đáp lại và bà thường xuyên bị day dứt, khổ đau vì sự cô đơn, sự thiếu thốn, sự cô lẻ về cả thể xác lẫn tinh thần. Và chắc chắn, bà còn phải chịu cả sự thờ ơ, sự bạc tình, sự lên án của người đời, đặc biệt là ở một xã hội phong kiến với bao nhiêu định kiến khắt khe.
Có những lúc tâm Hồ Xuân Hương tự hạ mình. Tự hạ để đi tìm một sự cứu vớt và để bắt đầu một cuộc cách mạng trong thi ca. Sự cao thâm, sự nghiêm trang, sự hoàn hảo và đặc biệt là chuẩn mực của thơ đương thời không làm thoả mãn bà. Sự nổi loạn để làm một cuộc cách mạng trong thơ đã bắt đầu và đã chín muồi cùng với số phận.
Trước hết là cuộc cách mạng về chất liệu. Trong cuộc cách mạng này, Hồ Xuân Hương chỉ giữ lại cấu trúc hình thức – một hình thức bên ngoài của thất ngôn tứ tuyệt hay thất ngôn bát cú. Còn thì thay đổi hết chất liệu.
Có thể hệ thống hoá chất liệu trong thơ Hồ Xuân Hương, từ vật thể vĩ mô đến vi mô: “Đèo Ba Dội”, “Hang Cắc Cớ”, “Đá ông chồng bà chồng”….đến “Cái giếng”, “Cây đu”, “Quả mít”, “Ốc nhồi”, “Cái quạt”… mỗi một vật phẩm của tạo hoá không còn lộng lẫy hay tao nhã mà biến dạng và cười cợt lên trong một hoạt động và một ham thích dục lạc. Cũng có khi bí bức, ngang ngược, đau khổ…Nó không che giấu mà phơi bày ra khắp nơi, ngang nhiên phô diễn như thể đấy là mục đích duy nhất của tạo vật. Biểu hiện như một tự nhiên như thế đủ khiến bất cứ một đầu óc tu chính thánh nhân nào cũng phát hoảng (mà không phải chỉ dưới thời phong kiến) – mà còn là sự trêu gan đối với lề luật và thẩm mỹ đương thời.
Bàn tay táo bạo của Xuân Hương còn đặt vào những chất liệu mà thi pháp đương thời kiêng kỵ – những chất liệu bị coi là “dung tục”, “xấu xí” như “quả mít”, “ốc nhồi”…vốn từ lâu, bị từ chối bởi văn chương bác học, nhưng lại tồn tại dai dẳng ở văn chương dân gian và vẫn được nuôi dưỡng trong cuộc sống dân dã. Hồ Xuân Hương đã lấy chính chất liệu ấy và đem vào đó cái quan niệm phóng tục cởi mở của nửa sau thế kỷ thứ mười tám, vốn được khai sinh trong ý thức cá nhân và trong văn học bình dân. Thế giới thơ Xuân Hương sống động bởi bao nhiêu sinh thể đang cựa quậy và sống lại trong một hồn xác mới. Dù là ở những sinh thể hèn mọn, tiếng nói bé bỏng của nó vẫn lai láng một bản năng dục tính duy nhất và một ý chí đòi giải phóng.
“Cầu trắng phau phau đôi ván ghép”.
Một chiếc cầu đá cũng rung động như một người đàn bà và sắc trắng phau của nó mới trong sạch, vĩnh cửu và tươi mát làm sao! Cho đến cả những vật thể xinh đẹp và ngon lành như “chiếc bánh” và “bánh trôi nước” cũng sóng sánh bập bềnh, nõn nà và ca múa lên trong một vũ điệu ướt át, thuần thục và hoan lạc. Và tác giả của nó, với một ý thức phóng khoáng và một tài năng khoẻ mạnh, đã miêu tả một cách cấp tập và say đắm cái bản năng vốn có và chung nhất của tồn tại và tạo vật.
Có lẽ trong việc giải phóng bản năng con người và trong thi ca, Hồ Xuân Hương xuất hiện muộn hơn truyện “Mười ngày” của Bôcaxiô thời phục hưng, nhưng đã đi trước cuộc cách mạng tình dục Châu Âu thế kỷ thứ hai mươi. Bà đã làm cuộc khải hoàn trên chất liệu và giúp các thế hệ hiểu rằng thế giới này phải tồn tại một cách hữu tình cũng như nó vốn hữu tình. Nhà thơ Xuân Diệu đã nói rất hay về khả năng dùng màu và khả năng giác quan hoá trong thơ Hồ Xuân Hương. Ông viết: “Hồ Xuân Hương nhìn sắc màu, thì những màu sắc đó phải kêu lên, phải xé ra, phải cao độ”.
Nhưng ta vẫn thấy, bên cái nền cao độ đó, còn dành chỗ cho một tấm phông khác – êm dịu, phơi phới, mượt mà. Và đấy là khi tâm hồn lớn lao của nhà thơ và người đàn bà thở nhẹ nhàng trong một ngọn gió xuân hữu tình của hội “Đánh đu”, làm bay tung lên “bốn mảnh hồng quần” lộng lẫy và để lộ đôi hàng chân tuyệt đẹp:
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song.
![]() |
| Minh họa bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày”. |
Cho đến bây giờ và mai sau, nếu trong lòng có phút nào bâng khuâng mong nhớ, bạn vẫn có thể cùng người họa sĩ nương theo nét bút tài hoa bay bướm trong thơ Xuân Hương để tìm gặp vẻ đẹp vừa phóng túng vừa trinh bạch trong bức tranh vĩnh cửu về nàng “Thiếu nữ ngủ ngày”, và tìm gặp trong thơ bà một “ngọn gió nồm đông” mát rượi.
