Nhà Thơ Bảo Định Giang

. Tiểu sử
Tên khai sinh là Nguyễn Thanh Danh, sinh tháng 11 năm 1919, tại xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Các bút danh: Nguyễn Thanh, Thu Thủy, Văn Kỳ Thanh, Nguyễn Tịnh Hà.

Ông xuất thân từ gia đình điền chủ bị phá sản, đã tốt nghiệp trung học thời Pháp thuộc, tham gia sáng lập Hội khuyến học tỉnh Mỹ Tho cùng với bác sĩ Dương Tấn Tươi.

Tham gia cách mạng từ năm 1945, giữ các công việc trong Ban Tuyên truyền lưu động chiến khu 8, Ban Tuyên huấn Bộ tư lệnh Nam Bộ, Bí thư chi bộ xã Tân Hòa…

Năm 1953 – 1977 công tác tại chiến khu Việt Bắc và Hà Nội đã giữ chức vụ như Vụ phó Vụ Tuyên truyền – đình chiến (thuộc Ban Tuyên huấn TW), Trưởng phòng Văn nghệ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Phó vụ trưởng Vụ Văn nghệ dân gian Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ, Tổng biên tập NXB Văn nghệ giải phóng, Giám đốc xưởng phim Giải Phóng. Phó Tổng thư ký Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Năm 1977 đến nay: chuyển công tác vào thành phố Hồ Chí Minh kinh qua các chức vụ như Bí thư Đảng Đoàn Hội văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Liên hiệp Các Hội Văn học nghệ thuật thành phố, Tổng biên tập báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Phó chủ tịch UBTQ các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều công tác đoàn thể khác như ủy viên Hội đồng nhân dân thành phố Khóa II, III, ủy viên Mặt trận tổ quốc, ủy viên Ủy ban thiếu niên nhi đồng thành phố…

Ông được rất nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương độc lập hạng II, Huân chương chiến công hạng III, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng I, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương vì sự nghiệp văn học VN…
Năm 2000, được giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Nhà thơ Bảo Định Giang mất ngày 1 tháng 2 năm 2005 tại TP. Hồ Chí Minh.

II. Tác phẩm
- Những con số máu – Phòng Chính trị chiến khu 8 – 1949.
- Đường giải phóng – Thơ, NXB Tác phẩm mới – 1977.
- Đêm huyền diệu – Thơ, NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1985.
- Dòng sông cuộc đời – Thơ, NXB Tiền Giang – 1986.
- Mây trắng và bến Nhà Rồng – Thơ, NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1989.
- Ca dao Bảo Định Giang – NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1990.
- Đảng lời nguyền – NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1991.
- Những bàn tay xây dựng – Kịch nói 3 màn – NXB Đồng Tháp – 1949.
- Kịch bản phim Lục Vân Tiên – xí nghiệp phim TP. Hồ Chí Minh – 1990.
- Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX, NXB Văn học – 1962.
- Văn nghệ một thời để nhớ, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh – 1994; NXB Văn học tái bản – 2001.
- Mấy vấn đề văn nghệ yêu nước và cách mạng, NXB Văn học – 1964.
- Nguyễn Thông, con người và tác phẩm, NXB T.P. Hồ Chí Minh – 1984/2002.
- Bùi Hữu Nghĩa, con người và tác phẩm, NXB Trẻ – 2001.
Những ngôi sao sáng trên bầu trời Văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, NXB Trẻ – 2001.
Và nhiều tập ca dao, thơ trào phúng v.v… (*).


III. Những kỷ niệm về nhà thơ Bảo Định Giang

1. Cố nhà văn Mai Văn Tạo đã viết trong bài “Một đời chiến đấu, một đời thơ” 1 trên Báo Văn nghệ, tháng 10-1992, khắc hoạ rõ nét chân dung:

“Bảo Định Giang còn có cái lạ đối với tôi. Anh làm việc hết sức cần mẫn và sức dẻo dai đến kinh ngạc. Hồi còn ở Hà Nội, anh vừa là Thường trực Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật, lo toan trăm thứ ngổn ngang, túi bụi hàng ngày, như tôi đã nói, còn là Tổng biên tập báo Văn nghệ Trung ương, Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng, Giám đốc xưởng phim Giải phóng. Công việc rối mù từ sáng sớm đến đêm. Đêm anh còn viết lách đến một, hai giờ sáng. Lắm khi suốt đêm. Có lẽ vì thế mà giọng anh khàn đặc. Anh làm việc rất dữ, sáng tác cũng tợn. (Dữ và tợn tôi nói theo nghĩa tốt). Hồi ở Hà Nội, còn trẻ (bốn năm mươi) còn sức sống không nói làm gì. Giờ đây anh đã quá tuổi thất tuần – cái tuổi xưa nay hiếm – đã mổ ba lần và cắt bỏ mật từ lâu, phong thái làm việc của anh không kém mấy ngày xưa.

Nhiều lần đi với anh về những nơi xa, Đồng Tháp, Mộc Hóa, Tiền Giang, An Giang… ngồi xe cả ngày, đến nơi mệt lả, chín mười giờ tôi đã lăn ra ngủ. Mệt quá! Quá nửa đêm, thức giấc, vẫn sáng đèn. Bảo Định Giang, gò lưng trên giường, tay chân khẳng khiu như những ống tre non dầm nắng, anh đang viết cái gì đó hoặc làm thơ. Tôi biết nếu bây giờ mà tôi trỗi dậy, anh sẽ ngừng tay dòng cảm hứng, châm trà trò chuyện với tôi, không biết đến giờ nào. Anh quý bạn, ngại bạn phiền. Với ai cũng vậy. Hình như thói quen nghề nghiệp quản lý văn nghệ sĩ – kiểu riêng anh – trở thành như quán tính đối với anh. Chuyện với anh bao giờ cũng thú vị, ở đâu, lúc nào cũng là chuyện sáng tác, văn thơ nghệ thuật, chuyện cuộc sống, cuộc đời bổ ích, chớ không phải chuyện tào lao, phù phiếm, tầm thường. Tiếp xúc với anh em từng địa phương, từng lúc anh lắng nghe, chăm chú tìm hiểu thấu đáo và góp ý giúp đỡ.

Anh làm việc hùng hục như người nông dân mẫn cán, chỉ lo cho đất, cho lúa, ít nghĩ đến thân mình. Những năm trở lại đây Bảo Định Giang viết rất dữ (với nghĩa tốt) anh làm thơ, viết chính luận, ký, biên khảo, ca dao, câu đối, thơ trào phúng, châm biếm… Đã in mấy tập thơ và biên khảo (tự bỏ tiền ra in) đề tài của anh là truyền thống danh nhân lịch sử, đất nước quê hương. Anh viết như người chạy đua nước rút. Phải chăng vì anh cảm nhận thời gian hết sức khắc nghiệt với người cao niên?

Lắm khi tôi thầm nghĩ: “Làm việc kiểu cha này không thể chết vì lão, mà chết vì lao”.

Có thể lắm! Bởi lẽ anh làm việc với cường lực, cường độ như vậy, nhưng anh ăn uống hết sức đạm bạc, đạm bạc đến khắc khổ! Anh không uống được sữa, không mấy thích hủ tíu, mì. Đến xứ nào anh cũng tìm cho được bắp, chuối, khoai lang. Gần như món ăn thường nhật. Ăn rất ngon lành. Trong túi xách của anh không lúc nào thiếu một trong ba thứ ấy. Tôi để ý anh nhiều lắm, bữa tiệc linh đình, thịnh soạn anh vẫn ăn như bữa cơm thường đạm bạc ở nhiều nơi. Anh ăn qua loa rồi ngồi đó khuyến khích anh em ăn.

Bảo Định Giang yếu đau như vậy, nhưng rất chịu đi. Xa mấy, cực mấy cũng đi. Ăn ở sao cũng được, chẳng phiền hà. Lên Đồng Nai giúp anh em làm báo văn nghệ. Lúc văn nghệ còn nghèo, trưa anh kéo bàn kê lại ngủ trưa. Lần đến Mộc Hóa, chúng tôi muốn đến một số nơi xa. Huyện định đưa chúng tôi đi bằng “tắc ráng” có mui, để tránh nắng, phòng mưa. Anh chối ngay: “Các anh cho tụi tui chiếc xuồng ba lá nhỏ, có mái được rồi. Nắng mưa có gì đáng ngại. Xuồng nhỏ dễ đi, “tắc ráng” rình rang bất tiện”.

Hôm về Châu Đốc, tôi muốn đưa anh vào đồn cũ Vĩnh Thông, nơi ngày xưa thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa đến đây trấn đồn “đoái công chuộc tội”.
Bảo Định Giang náo nức đi ngay. Đến tận nơi lưu đày nhân vật cuốn sách anh đang viết. Anh không cần biết độ đường khá xa – trên tám mươi cây – và đầy dẫy ổ gà.

Tự nhiên sao tôi muốn viết về anh, những chuyện không đầu không đuôi. Tôi có biết gì về anh nhiều lắm đâu! Một con người đã dành hơn hai phần ba đời mình cho cách mạng cho thơ, dành trọn tuổi trẻ của mình cho hai cuộc kháng chiến.

Kỷ niệm giữa tôi với Bảo Định Giang gồm những chuyện hết sức bình thường. Tỉ như bữa cơm trưa với tương kho và rau muống luộc tôi và anh ăn tại đồn biên phòng Mộc Hóa năm nào. Tỉ như buổi tối đầu tiên từ rừng U Minh ra Hà Nội, tôi đang ăn cơm vui vẻ với gia đình, chợt thấy Bảo Định Giang lù lù ngay cửa tự lúc nào. Anh lặng lẽ (chắc cũng khá lâu?) nhìn cuộc trùng phùng của bạn vừa từ chiến trường ra. Chúng tôi đứng lên. Anh tươi cười vỗ bộp lên vai tôi: “Còn lội nổi ra đây là mừng rồi!”. Câu nói ngắn gọn nhưng khó quên! Nói câu ấy, chắc anh nhớ lại trận sốt rét tai ác quật ngã anh ba tháng trời tại rừng núi Hạ Lào? Vậy đó, tôi nhớ anh toàn những chuyện vụn, linh tinh. Phải đâu ở đời chỉ nhớ những chuyện lớn lao, những điều trọng đại. Trong mỗi con người thực ra có chuyện nào là nhỏ?

Sao ta có thể lãng quên? Lâu lắm rồi, ta cũng đã lãng quên ta! Quên cả những ngày tháng đáng nhớ! Quên cả những gì của bạn đáng yêu. Dĩ nhiên không ít những điều đáng trách. Ai dám bảo trong ánh hào quang rực rỡ không có những hạt bụi len vào. Cái dở, cái điểm yếu ai mà không có. Cái hay cái đẹp của từng người phải chịu khó nhìn và có cách nhìn mới thấy hết.

Thấy để mà tự tin ta, – tự yêu ta – dù ta chỉ là một bánh xe nhỏ, rất nhỏ trong guồng máy của cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại.

2. Giáo sư, nhà phê bình văn học Trần Thanh Đạm trong bài “Những sợi tơ và những giọt lệ” 2 có cái nhìn riêng về tác phẩm:

“Văn thơ là sự giao lưu, nhiều khi là sự kỳ ngộ, giữa người với người. Rất lâu trước khi tôi được quen biết rồi thân thiết với anh Bảo Định Giang, tôi đã được gặp anh qua thơ của anh, một sự gặp gỡ có thể được gọi là kỳ ngộ, đáng ghi nhớ suốt đời. Năm 1950, trên đường núi Trường Sơn, (Trên đường Trường Sơn / Cao đèo thẳm suối / Ngút rừng quạnh núi, Xanh con mắt ròn / Tiếng ve dắng dỏi / Trăng rừng chon von – Chế Lan Viên), từ Bình Trị Thiên ra Thanh Nghệ Tĩnh để lên Việt Bắc, tại một trạm vận tải ở miền Tây Quảng Bình, tôi đã được gặp thơ anh trong một quyển sách quý thời bấy giờ là “Tập văn cách mạng và kháng chiến” in tại Việt Bắc; Sách này cùng với những số báo Văn nghệ, Sự Thật, Vệ Quốc Quân, v.v… từ Trung ương theo các đoàn vận tải súng đạn và gạo muối đi về các chiến trường phương Nam. Sách này là tuyển tập các tác phẩm đầu tiên của văn học kháng chiến.Về văn xuôi có Đường vui, Gió Lào của Nguyễn Tuân, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương, Buổi chợ Trung du của Ngô Tất Tố, thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận… Tác phẩm miền Nam có thơ Khương Hữu Dụng (Một tiếng chim kêu sáng cả rừng), của Phạm Phú Thuần ở Liên khu V. Về Nam bộ có một bài ký về cuộc trở về của các tù chính trị Côn Đảo, trong đó có cụ già Thắng (tức Bác Tôn). Những trang đầu của Tuyển tập in ca dao kháng chiến Nam bộ, bài thứ nhất là bài Tháp Mười đẹp nhất bông sen… có ghi tên tác giả rõ ràng: Bảo Định Giang. Ngoài hai câu ca dao đó, còn có các câu khác nữa của Bảo Định Giang mà tôi sẽ nói đến sau đây. Câu ca dao bông sen Tháp Mười có lẽ là một trong số bài thơ hay nhất về Bác đến nỗi trở thành ca dao dân gian. Ít người nhớ và biết đến tác giả. Hồi bấy giờ, ở Bình Trị Thiên cũng có một câu hò giã gạo về Bác Hồ của nhạc sĩ Nguyễn Khoa Châu, tức Hải Châu, em ruột nhà văn Hải Triều, hi sinh năm 1950 trên đường trở về từ chiến trường Bình Trị Thiên, mà người ta cũng tưởng là câu hò dân gian, không ai biết tác giả. Bài này cũng có mặt trong Tuyển tập thơ văn nói trên, bên cạnh câu ca dao của Bảo Định Giang.

Tôi không có gì phải nói thêm về hai câu ca dao nổi tiếng đó vì mọi người đều biết. Tôi muốn nói thêm rằng cùng với hai câu ca dao ấy trong tập sách mà tôi đã gặp trên nẻo đường kháng chiến của tôi còn mấy câu tiếp theo cũng của Bảo Định Giang liền sau đó. Đó là mấy câu:

Bấy lâu gian khổ đã từng
Muối tiêu mít luộc vang lừng hát reo
Chúng mình có nước thì yêu
Đã theo nghĩa cả thì theo đến cùng…
Tôi nhớ lại ngày ấy mấy câu đó đã vang dội và thấm thía sâu xa trong lòng tôi như thế nào. Hình ảnh của sự gian khổ kháng chiến ở Bình Trị Thiên ngày đó là “rau tàu bay chấm nước ruốc” (được tả trong tiểu thuyết Chiến khu Thừa Thiên của Lưu Trọng Lư). Câu ca dao của Bảo Định Giang cho tôi biết thêm một hình ảnh gian khổ của bưng biền Nam Bộ: “Mít luộc chấm muối tiêu” (Sau này là “tương tư một tán đường” của Xuân Miễn). Nhưng đặc biệt nhất là hai câu cuối. Tôi không biết ngày nay thế hệ trẻ cảm nhận hai câu đó như thế nào nhưng ngày đó, nó là lời thề, lời nguyền, không hề cao giọng, lên gân mà son sắt như ghi khắc tận xương tủy và tâm hồn. Biết bao người đã lên đường và đã liên tục đi hết con đường 30 năm, không lùi bước, không bỏ cuộc, nhờ một lời thề của mình với mình, mình với bạn như thế. Riêng tôi, tôi vô cùng biết ơn mấy câu thơ đó của Bảo Định Giang đã đến với tôi ngày tôi mới 18 tuổi, theo cha anh, theo bạn bè đi kháng chiến cứu nước và đã may mắn theo nghĩa cả đến cùng, cho đến hôm nay. Tôi nghĩ khi viết những câu thơ đó, anh Bảo Định Giang cũng không ngờ về sau nó trở thành ca dao của nhân dân, trở thành tâm niệm của những người yêu nước. Rõ ràng thơ là con đường từ trái tim đến với trái tim, đồng cảm, đồng điệu, có khi thật đơn sơ mà kỳ diệu.

Cho tôi nói thêm một lần nữa, tôi đã gặp thơ Bảo Định Giang như thế nào. Năm 1965, trong bài viết nổi tiếng “Ngôi sao càng nhìn càng thấy sáng” kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu, đồng chí Phạm Văn Đồng có nhắc đến bài thơ của Nguyễn Tư Giản viết tặng Nguyễn Thông cuối thế kỷ XIX, hồi Pháp mới chiếm Nam Bộ. Nguyên tác bằng chữ Hán, đồng chí trích mấy câu từ bản dịch của Bảo Định Giang:

Bao giờ Bến Nghé lại trong
Cho dòng sông Nhị vang lừng khải ca
Chở thuyền lên tận Ngân hà
Bể xanh ra ngắm trăng ngà sáng soi
Cảnh tình nghĩ lại chưa vui
Non sông còn gánh hai vai nặng nề…
Đêm qua cùng bác tỉ tê
Vần thơ bay múa đèn khuya chập chờn
Lưu nhau không ở thêm buồn
Miền Nam khói tỏa mưa tuôn ngập trời
Xa nhau cũng gắng lên thôi
Lên lầu trăm thước mà coi nước nhà
Đừng cho Hà Bá cười ta;
Non sông thế ấy vậy mà gào suông…
Tôi hiểu vì sao Bảo Định Giang dịch mấy câu thơ của Nguyễn Tử Giản đạt và hay đến vậy. Và vì sao Phạm Văn Đồng lại dẫn chính bài thơ đó, đoạn thơ đó, bản dịch đó. Vì đây là những tấm lòng đã gặp nhau: một nỗi khắc khoải vì miền Nam ruột thịt đang bị cắt ra khỏi mình Tổ quốc:

“Đừng cho Hà Bá cười ta
Non sông thế ấy vậy mà gào suông…”.

3. Trong tôi còn đong đầy những kỷ niệm với nhà thơ Bảo Định Giang

Tôi gặp ông trong ngôi nhà 81 Trần Quốc Thảo (Liên hiệp Các văn học nghệ thuật TPHCM), một người tên tuổi lẫy lừng trong giới văn nghệ sĩ cả nước, một nhịp cầu văn hoá hai miền trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Chàng thanh niên Nguyễn Thanh Danh sớm giác ngộ cách mạng ở tuổi 21. Ngay từ thuở thiếu thời đã vào chùa học chữ Hán, nên trong ông hình thành nhân cách Nho – Phật, yêu mảnh đất Mỹ Tho nên đã “mượn tên” dòng sông Bảo Định làm bút danh để đời Bảo Định Giang “Ơi dòng sông nuôi ta khôn lớn/ Xin được từ đây mượn đặt tên…” . Hình ảnh cô tài xế trẻ hằng ngày chở ông đến 81 cùng tách cà phê đen đặc, cạnh những tờ báo lớn nhỏ cả nước đã gây sự tò mò trong tôi. Khi hay tin tôi đến, chú Bảy bắt tay vui vẻ trò chuyện cùng tôi về quãng đời cách mạng nhất là những ngày kề cận làm việc bên Bác Hồ kính yêu cùng những kỷ niệm cùng với các văn nghệ sĩ nổi tiếng cả 2 miền đã được ông lưu giữ và công bố qua tập “Văn nghệ – một thời để nhớ”.

Ông tâm sự về hoàn cảnh ra đời hai câu ca dao “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” và những lần vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu: “Một hôm tình cờ tôi gặp đồng chí Lê Duẩn đến họp với Bộ Tư lệnh quân khu. Biết tôi làm Trưởng ban Tuyên truyền, cuối buổi chiều sau khi họp xong, đồng chí nắm tay tôi dẫn ra cái nền còn lại của tháp 10 tầng mà Đốc Binh Kiều đã dựng lên canh gác giặc cuối thế kỷ XIX để dặn dò tôi một số việc. Cuộc gặp gỡ diễn ra đầu năm 1946. Đồng chí dặn tôi mấy ý lớn. Một là, đi tới đâu hòa mình với nhân dân tới đó. Hai là, cổ động mạnh mẽ tinh thần yêu nước của quần chúng. Ba là – điều này đồng chí dành nhiều thời gian và nhấn mạnh – nói rõ cho đồng bào biết về cụ Hồ, mà trước đó, chính tôi cũng chỉ hiểu được một ít. Đồng chí mong ước có những bài hát, bài ca dao, bài thơ viết về Cụ Hồ phổ biến sâu rộng trong nhân dân, kể cả lực lượng cầm súng ở địa phương. Tôi lắng nghe ý kiến phân tích sắc sảo của đồng chí Lê Duẩn và rất mừng, may mắn gặp đồng chí trước ngày lên đường… tôi gặp hàng nghìn hàng vạn đóa sen hồng đong đưa trong gió sớm, sao mà đẹp khác thường. Lòng tôi bỗng dấy lên một sự rạo rực khó tả trước một cảnh vật bất chợt, tình cờ, tôi ngẫu hứng ngâm se sẽ:

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”.
Bài ca dao này được truyền miệng và in trên sách báo rộng rãi trong vùng Đồng Tháp Mười. Năm 1948, tôi có gởi phái đoàn anh Trần Văn Trà ra tặng Trung ương Đảng một tập ca dao và thơ chép tay, trong tập thơ ấy có bài “Bông sen”.

Tôi hỏi ông: Chú Bảy là người may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần. Xin cho biết một vài kỷ niệm đáng nhớ nhất về Bác Hồ?

- Tôi gặp Bác Hồ lần đầu tiên vào năm 1954, ở chiến khu Việt Bắc. Sau khi dự lớp chỉnh huấn ở Liên khu 5, như đã nói trên, tôi ra Việt Bắc, đường đi gian nan vất vả nên tôi phải vào nằm trạm xá. Một hôm, sau bữa ăn sáng, tôi đang đứng trước trạm xá thì thấy Bác đi ngang qua. Bác đi rất nhanh cùng với các cận vệ. Tôi xúc động đứng sững mà nhìn. Bác đang đi thì có một anh không biết ở đâu cầm máy ảnh chạy tới xin chụp hình Bác. Các anh cận vệ tỏ ý không bằng lòng nhưng Bác thuận. Anh chụp hình luống cuống bấm máy liên tục. Bác lắc đầu ôn tồn bảo: chú chụp như vậy là hỏng. Phải bình tĩnh mới được. Để Bác đứng lại cho mà chụp. Người chụp hình không ngờ Bác không phiền mà còn ân cần như thế nên hết sức cảm động. Thái độ bao dung của Bắc đã khắc sâu trong lòng tôi.

Và tôi còn có dịp chứng kiến nhiều lần tấm lòng độ lượng của Bác. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ ba, đồng chí Nguyễn Lương Bằng giao cho tôi tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ đại biểu trong và ngoài nước. Công phu nhất là vũ hội gồm 4.000 người do anh Thái Ly đạo diễn tại sân vận động Hàng Đẫy sau ngày Đại hội bế mạc. Chương trình diễn ra trong hai tiếng rưỡi. Còn chừng 50 phút nữa thì chấm dứt, anh Trần Duy Hưng, Chủ tịch UBND Hà Nội lúc đó, đến bảo tôi liệu cắt bớt chương trình, sợ Bác mệt. Tôi hứa nhưng không biết tính sao vì các đoàn tập rất công phu và đều muốn diễn báo cáo với Bác. Trong đó lại nhiều đoàn miền Nam tập kết ra Bắc. Cắt thì gay quá! Đợi một lúc thấy tôi không động tĩnh gì, anh Hưng bực, lại xuống chỗ tôi. Tôi nói rõ lý do rồi bàn nên hỏi ý kiến Bác. Không đợi anh trả lời, tôi đi vội lên khán đài. Anh Hưng đành phải theo. Túng quá hóa liều nhưng thực ra bụng tôi lo lắm. Chẳng ngờ nghe xong, Bác quay sang bảo anh Hưng: Chẳng còn bao lâu nữa, cắt e các cháu sẽ buồn!” 3.

Khi tôi còn làm việc tại Báo Văn Nghệ, văn phòng miền Nam, ông luôn gọi điện ngợi khen, cũng như góp ý những bài tôi khắc hoạ chân dung trong chuyên mục “Chuyện Văn Chuyện đời”. Hôm nhà thơ Tố Hữu qua đời, ông gọi điện tìm tôi để viết bài thay vì ông đã yếu, khi tôi đến là lúc ông đang đọc cho thư ký viết, trông thấy tôi ông mừng vui và “giao” hết tài liệu để tôi về thể hiện những ý tưởng của ông về kỷ niệm đối với nhà thơ lớn của dân tộc. Sau đó giao cho tôi viết thành tiểu luận để in chung trong tập sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tuyển chọn. Hoàn thành xong ông gởi tôi 300.000 nghìn đồng, dường như vợ ông thấy ít có “nhắc khéo” nhưng ông xua tay, tôi biết bấy nhiêu đó không có gì lớn nhưng ông “trả” nhuận bút ấy là lớn so với nhuận bút của báo Văn Nghệ. Có hôm, chú Bảy trực tiếp đến văn phòng gởi tôi tập sách photo các bài viết của văn nghệ sĩ viết về ông để tôi làm tài liệu, cũng là để sau này in thành tập. Với hai lời đề tặng, một ở bìa ngoài: “Một số bài viết về tôi dành tặng Nguyễn Văn Tý (12/1/2003) và “Bài của anh em viết về các tác phẩm của tôi, xin tặng anh Nguyễn Văn Tý để làm tư liệu (12/12/2003), cùng ký tên Bảo Định Giang. Tôi xem lại khoảng thời gian có sự cách biệt, chắc do ông sức khoẻ yếu nên… đó là cuốn sách dày 188 trang đang ở bản thảo dường như chưa xuất bản ?

Trong tôi chỉ có điều day dứt mãi, đó là lúc sức khoẻ chú Bảy kém nhiều, những khi cần ông nhờ cháu gái gọi và tôi đến trao tận tay tiểu luận ông đang viết dang dở về Nhiêu Tâm – nhà thơ trào phúng nổi tiếng ở Vĩnh Long, vì trước đó ông đã viết về Học Lạc, người đồng hương. Cái nợ đó tôi chưa hoàn thành thì ông đã ra đi.

Được làm “thư ký” nhỏ trong khoảng thời gian ngắn cho bác Bảy cũng là niềm hạnh phúc lớn trong tôi. Khi thực hiện bài viết này, tôi có đến nhà thắp hương và khấn chú Bảy để tôi hoàn thành tâm nguyện ông giao phó. Tôi nhã ý hỏi bác gái, bà chỉ cười nhẹ, có lẽ sau này có điều kiện tôi sẽ tìm nhà xuất bản in cuốn sách trên “Về tác phẩm của Bảo Định Giang” mà sinh thời ông chưa kịp in. Điều đặc biệt, tôi tự hỏi và cũng hiểu rằng, bác Bảy trao tặng tôi “để làm tư liệu” và lại ghi nhầm nhiều lần (kể cả trước đây) “Nguyễn Văn Tý” (nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã phổ bài “Huyền diệu” của ông-NT) phải chăng Bác đã tiên liệu được sau này tôi sẽ viết về Bác, nhất là viết cho Kỷ yếu của vùng đất Mỹ Tho, Tiền Giang nơi ông đã sinh ra và mơ ước: “Dẫu được về quê sống một ngày!”…

4. “Chuyện gậy mây” và quê hương “Mỹ Tho – niềm thương và nỗi nhớ qua những tháng, năm dài…” được Bảo Định Giang yêu thích nhất

“CHUYỆN GẬY MÂY” 4

(Gửi anh em văn nghệ giải phóng miền Nam thân yêu)

“Tiễn bạn đường xa tặng gậy mây
Ta về mang nặng mối tình ai…
Tay nâng chiếc gậy từ tay bạn
Lòng những nhớ lòng, tay nhớ tay!
Bạn với ta rày đã cách xa
Đêm nằm vắng bạn gậy bên ta
Ta đi có gậy theo từng bước
Đèo núi dù cao mấy cũng qua!
Chiếc gậy bên ta, những tháng năm
Sinh từ lòng đất Mẹ ta nằm…
Hướng về quê cũ không nguôi nhớ
Gió núi trăng rừng nghe thấy chăng?
Mảnh đất sinh ta tự những ngày…
Nặc mùi chất độc lẫn hơi cay
Rừng xưa vẫn giữ màu hoa lá
Che mát đầu ta những bóng cây!
Chiếc gậy bên ta mỗi chữ tên
In sâu tình bạn, thuở nào quên
Vắt cơm xẻ nửa, chăn chung đắp
Ta nhớ thương ai lấy gậy nhìn!
Lưu luyến đưa nhau, dặn mấy lần
Cố đi lên nhé! Khỏe đôi chân!
Ta đi… như cánh chim đầu núi
Chiếc gậy bạn cho:
Chiếc gậy thần!


Quảng Bình, 22-12-1970


Về mảnh đất Mỹ Tho chốn chôn nhau cắt rốn, Bảo Định Giang đã viết bằng cảm xúc của người con không quên quê cha đất mẹ:

“Từ trận chiến thắng vang dội Rạch Gầm-Xoài Mút diễn ra ở thế kỷ 18, từ những cuộc chiến đấu một mất một còn của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân chống quân xâm lược không cân sức, từ cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, từ cuộc đấu tranh của công nhân ở hãng Xáng Mỹ Tho… cho đến cảnh vật và con người ở trên mảnh đất sinh ra tôi, trong đó có thành phố Mỹ Tho, cưu mang và đùm bọc tôi, nuôi dạy tôi khôn lớn đều là những hình ảnh được khắc hoạ sâu sắc, được mang theo trên các chặng đường, trên các chiến trưởng, trên các địa phương mà đôi chân tôi đã trải qua… 5.

Về việc chọn bút danh Bảo Định Giang, ông cho biết: “Câu thơ của một tác giả vô danh viết về anh hùng Nguyễn Hữu Huân, sau ngày Nguyễn Hữu Huân bị địch đóng gông chở đi bằng thuyền xuôi dòng Bảo Định cho đến Mỹ Tịnh An hành quyết:

Đương niên Tho thuỷ ba lưu huyết
Long đảo thu phong khởi mộ sầu
(Sông Tho máu nhuộm đỏ dòng
Gió sầu hiu hắt cồn rồng chiều thu).
Với lòng biết ơn sâu sắc người anh hùng của xứ sở, hai tiếng “Tho thuỷ” đi sâu vào tận buồng tim và cân não tôi, buộc tôi phải chọn cái tên Bảo Định Giang đặt cho bút danh của mình trước khi bước vào cuộc kháng chiến. Với tôi đó là lời thề trước ông cha – đêm giao thừa năm 1946, trên sông Vàm Cỏ Tây.
Ôi, Dòng sông nuôi ta khôn lớn
Xin được từ đây mượn đặt tên.
Từ thuở xuống thuyền lên máy chém
Ơn người đầu đội mãi không quên!
Nghĩa nước tình nhà hằng để dạ
Bước đường kháng chiến nặng hai vai.
Trả ơn đời, trả ơn cha mẹ
Nguyện gắn đời ta với bút này” 6.
Kỷ niệm lần trở về thăm quê: “Sau ngày miền Nam giải phóng mấy hôm, tôi đi theo máy bay quân đội về thăm quê hương. Khi chiếc ô tô đưa tôi đến ngã ba Trung Lương, tôi yêu cầu lái xe dừng lại mua vài trái mận. Tôi hỏi em gái bán mận: “Đây là chốn nào vậy em?”. Em gái đáp: “Thưa chú, đây là ngã ba Trung Lương!”. Tôi lại hỏi: “Từ đây đến cầu quay Mỹ Tho có xa không?”. Em gái đáp: “Gần lắm chú ạ!”. Tôi lại hỏi: “Chùa Vĩnh Tường nghe nói đẹp lắm, phải không em?”. Em gái đáp: “Lớn và đẹp lắm, chú lên tới đó một lần cho biết!”.

Khi xe chạy bon bon trên đường nhựa vào Mỹ Tho, nhà văn Võ Trần Nhã, người đi cùng với tôi hôm đó, lấy làm kinh ngạc về các câu hỏi tôi hỏi em bé gái bán mận. Anh nói: “Anh Bảy biết rành Mỹ Tho quá, sao anh còn hỏi, như người mới đi lần đầu vậy?”. Tôi hẹn với anh Nhã mấy phút sau sẽ trả lời về sự thắc mắc của anh. Sau mấy phút, tôi liền ứng khẩu ngâm cho anh Nhã nghe bốn câu thơ này:

Em gái! Nơi đây là chốn nào?

- Mỹ Tho!

Ừ nhỉ, thích nghe sao!
Biết rồi vẫn hỏi, thương là thế
Ngọt lịm vườn xưa những mận đào.
Nghe xong bài thơ, anh Võ Trần Nhã hiểu rõ tâm trạng của tôi, nên chẳng hỏi thêm gì nữa! Hai chúng tôi đều lặng thinh nhìn cây lá, nhà cửa hia bên đường.

Suốt nhiều năm nay, mỗi lần về Mỹ Tho công tác, hoặc về thăm chùa Vĩnh Trường, tôi đều mang ý nghĩ biết ơn những người suốt mấy mươi năm đã nằm xuống trên đất quê hương. Không có sự hy sinh cao cả ấy thì những người như chúng tôi làm gì có cái hạnh phúc lớn được trở về, được nhìn lại con người và cảnh vật đã hằn sâu trong tâm khảm, từ những giờ phút đầu tiên ra đi. Với những ý nghĩ ấy, lần về Mỹ Tho tháng 4, năm 1992, tôi có làm một bài thơ nhan đề: “Dẫu sống lại một ngày” theo thể Đường luật như sau:

Ta về ngày ấy đêm vừa biến
Quê cũ xanh rờn dưới ánh dương.
Cờ đỏ sao vàng vàm Bảo Định
Cành tươi trĩu quả mận Trung Lương.
Trời cao sáng lại mây Long Đảo
Chùa vắng ấm lên mõ Vĩnh Trường.
Đất níu chân ta qua mỗi bước
Những giờ sống lại giữa quê hương.
Dẫu được về quê những phút giây
Công ai đánh đổi biết bao ngày.
Hầm chui bụi nấp bao nhiêu trận
Máu chảy, xương phơi biết mấy người.
Cờ đỏ mơ màng trong ngục tối
Tim son sáng chói giữa đêm dày.
Trọn đời ơn lớn xin ghi tạc
Dẫu được về quê sống một ngày!” 7.

Vâng, ông đã ra đi vì nghiệp lớn, đã hoàn thành sứ mệnh của một sứ giả văn hoá nghệ thuật trong vai trò nhịp cầu nối liền anh em văn nghệ sĩ hai miền Bắc-Nam. Và chúng tôi tin chắc ông đã trở về quê thật sự, sống mãi trong lòng quê hương, đất nước nhất là nơi có dòng sông Bảo Định và cây trái trĩu quả quanh năm thật quyến rũ lòng người “thương là thế”.


————————————————————————————————————

(*), (2), (4) Tư liệu tham khảo chính được trích trong “Tuyển tập Thơ văn Bảo Định Giang”, NXB Văn học, 2004.
(1) Trích “Về tác phẩm của Bảo Định Giang”.
(3) Trích trong tập “Tản mạn cùng văn nghệ sĩ miền Nam”, Nguyễn Tý, Nxb Hội Nhà văn, 2006.
(5), (6), (7) Trích “Những năm tháng – cuộc sống tin thần”, Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001.
Nguyễn Tý


Nguồn: Báo Công an TP Hồ Chí Minh

Leave a Reply