Chúng tôi đọc Trần Mai Châu – Phụng Hoàng
Những năm từ 2004 đến 2008, độc giả đã có dịp tiếp nhận hai cuốn sách của học giả Trần Mai Châu (TMC). Một là cuốn biên dịch và chú giải nhan đề Tuyển chọn thơ pháp thế kỷ XIX , và cuốn thứ hai: Thơ – nhận định và thưởng thức do Nxb Văn hoá thông tin ấn hành.Mỗi cuốn dày ngót bốn, năm trăm trang – một công sức lao động thực đáng kể!
Cuốn thứ nhất thuộc về chuyên luận. Nhiều ý kiến cho rằng cuốn sách xứng đáng được đưa vào chương trình giáo khoa, từ bậc trung học đến đại học. Cuốn thứ hai sẽ làm bạn đọc rất thú vị và dễ hiểu. Vì ở đó, những khái niệm căn bản, tiến trình phát triển và thể loại, những đặc trưng thi pháp của thơ…đã được lần lượt trình bày với một văn phong giản dị và tao nhã. Từ chương 1 đến chương 7, tác giả trình bày những khái niệm, những đặc trưng của thơ ca trong sự đối sánh với văn và nhạc. Chương 8 trình bày 13 hình thái tu từ. Chương 9,10,11: các thể thơ, câu đối, ca trù, hát nói. Riêng chương 12 giới thiệu các trào lưu văn học pháp thế kỷ XIX, XX…Chương 14 bàn luận tới các thi sỹ nổi tiếng trong phong trào thơ mới. Năm chương cuối bàn về dịch thuật và tác dụng của thi ca.
Là một nhà dịch thuật có tài am hiểu ngôn ngữ pháp – việt, Trần Mai Châu còn đặc biệt lưu ý bạn đọc tới những dư luận, những nhận định của nhiều thời, nhiều người về thơ trữ tình, thơ tượng trưng, siêu thực, và thơ tự do trong sự đặt định và đối chiếu với hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác, và trong sự so sánh liên tưởng.
Bạn đọc có thể bắt gặp những nhận định chân xác, rất hiếm thấy trong hàng loạt những giáo trình văn học ở các nhà trường hiện nay, ví dụ: Trữ tình là một năng khiếu tự nhiên, một khởi động của tâm hồn, khi được đưa vào nhạc điệu của các câu thơ, nó trở thành thơ trữ tình; Một nhận xét khái quát về thơ và thời đại: …không có tình cảm, không có trữ tình, mức độ trữ tình tương ứng với mức độ tình cảm, những thời kỳ lý trí được coi trọng (như thế kỷ XVII, XVIII ở Pháp), không có nhiều tác phẩm trữ tình. Trái lại, khi con người trở nên nhạy cảm như trong thế kỷ XIX, thơ trữ tình phát triển mạnh.(tr315.sđd). Một lời bình xác đáng từ một so sánh của Lamartin: “…theo Lamartin, thơ là đồng còn văn xuôi là đất sét; ý ông muốn ám chỉ là thơ thì chắc chắn, bền bỉ, còn văn xuôi thì dễ tan rã…câu thơ bị chi phối bởi nhịp điệu, những chỗ ngắt hơi, nhưng tập trung được ý tưởng, tồn tại lâu hơn trong trí nhớ mọi người”; hoặc quảng diễn một ý niệm vô song của Valery: Valery gọi thơ là một ngôn ngữ trong thơ…trong thi ca, bài thơ không chết sau khi đã sống; nó đã được tạo nên chính để sống từ những tro tàn của nó và trở thành mãi mãi cái mà nó vừa trở thành.
Bàn về tính chất, về khuynh hướng tư tưởng, về bức tranh xã hội rộng lớn của trào lưu lãng mạn trong thơ pháp thế kỷ XIX, Trần Mai Châu viết:
Khai thác triệt để cái tôi với rất ít lý trí và rất nhiều tình cảm, tưởng tượng, các nhà thơ lãng mạn với giọng điệu thiết tha, truyền cảm đã làm rung động bao nhiêu tâm hồn đồng điệu, đồng thời đạt đến tính nhân bản cực kỳ sâu sắc…hai cuộc cách mạng 1830 và 1948 đã chia rẽ các thi sỹ Pháp. Một số nhà thơ như Lama rtin, Huygo, Vigny thấy cần dành ưu tiên cho các vấn đề chính trị, xã hội, thấy mình có sứ mệnh dẫn dắt nhân loại, đã hướng về một thứ “lãng mạn nhân đạo”. Nhiều người khác như Gautier,Nerval, Banville vừa muốn chỉ là nghệ sỹ thuần túy vừa phản ứng lại lối biểu hiện phóng túng những tình cảm riêng tư, chủ trương thơ chỉ có nhiệm vụ với chính nó, mục đích của nghệ thuật chỉ là “cái đẹp”.
Những lý giải, những giới thiệu, những nhận xét và bình giá về nhóm Thi Sơn, trường phái tượng trưng và siêu thực đã được Trần Mai Châu diễn tả rất hay: “ …tôn thờ sự hoàn hảo về hình thức, họ (nhóm Thi Sơn) chủ trương chỉ có thứ thi ca trong sáng, cân đối, với những đường nét điêu khắc chính xác mới có những khả năng diễn tả những xúc cảm lớn lao và những suy tư triết lý sâu sắc. … Những thi sỹ mở đường cho chủ nghĩa tượng trưng là Nerval và Baudelaire; người thứ nhất đưa ra những thể nghiệm của mình về cái siêu thực và sự tràn ngập của giấc mơ trong đời sống con người ; người thứ hai nêu lên sự tương ứng kỳ bí giữa các giác quan, tình cảm”
Một số vấn đề khó nhất của thơ siêu thực, nhờ sự diễn giải của Trần Mai Châu, tự nhiên trở nên sáng tỏ:“một bài thơ phải là một sự tan vỡ của trí tuệ”..đối với các nhà thơ siêu thực, cái đẹp của bài thơ không là hài hoà, không là hoàn hảo. Nó là một ngạc nhiên. Nó nằm trong sự bất ngờ, nó đột nhiên gây xáo trộn, tiết lộ những sâu kín của ta…thơ là tiếng nói của tiềm thức, của bản năng thầm kínbị chà đạp…thơ là một sự bùng nổ, một sáng tạo nhũng ý tưởng mới, hình ảnh mới, tương quan mới…”
Thuộc về thế hệ cùng thời song nhỏ tuổi hơn các nhà thơ mới, Trần Mai Châu hướng tới các nhà thơ pháp với bao nhiêu đồng cảm và ngưỡng mộ:
Apollinaire đã tham gia hầu hết các phong trào tiền phong của thời đại. …mặc dầu hết sức cổ võ tính hiện đại, hình như ông còn thừa hưởng được ở truyền thống lãng mạn gần một thế kỷ trước lòng ưa thích một thứ thơ sâu kín ở đó vang lên nỗi niềm bi thiết của kẻ thất tình (1). …suốt hai mươi năm, paul vale ry sống ẩn nhẫn để suy ngẫm…ông muốn để lại cho thơ pháp đang bị đe dọa một tác phẩm được tạo thành bởi những tư tưởng trong sáng nhất và những hình thức cao quý nhất.
Chúng tôi đọc được trong lời viết của Trần Mai Châu sự thuỷ chung, đức công bằng trước những giá trị của nhân loại và của dân tộc Pháp.Ở đây là của những thi sỹ thực sự của nước Pháp, của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Thiết tưởng những nghiên cứu và bình gía của Trần Mai Châu cũng cho ta hiểu thêm về thơ mới – một trào lưu lãng mạn trong thi ca việt nam những năm 1932-1941; một trào lưu dường như được khởi nguồn trực tiếp từ trào lưu thơ lãng mạn pháp thế kỷ XIX – về những sắc thái đa chiều, đa diện và truyền thống của thơ mới trong những tìm tòi và đổi mới về nội dung và hình thức, một sự đổi mới căn bản có tính quyết định góp phần làm thay đổi tâm thức và diện mạo của văn học việt nam nửa đầu thế kỷ XX, khiến tâm hồn việt, tiếng việt trở nên hiện đại, uyển chuyển, rực rỡ, lãng mạn và phong phú hơn. Cũng có thể ví như nhạc pop, rock hiện nay, thơ mới gây sửng sốt và mang lại một sức sống mới cho cá nhân, cho xã hội, cho cả một thế hệ, đặc biệt là thế hệ thanh niên. Nó làm cho nhịp sống trở nên nhanh hơn, sôi động hơn, mau lẹ hơn. Nói như Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan, chưa bao giờ trong lịch sử văn học dân tộc, xuất hiện một hiện tượng đặc biệt hơn thế. Sự phát triển và bùng nổ về số lượng và chất lượng, kết tinh và trưởng thành, cách tân và tỏa sáng… đã làm nên một thời đại trong thi ca, và một năm đã có thể kể như ba mươi năm của người! Và khi ta làm vang lên một lần nữa những vần thơ du dương, hơi u buồn và khắc khoải, rất lãng mạn và rất đẹp của tiếng thu, của Cây đàn muôn điệu, của Vội vàng, của Mùa thu tới, của Thơ say, của Màu thời gian, Tống biệt hành, Đây thôn vĩ dạ và mùa xuân chín…(2), ta bỗng nhất trí cùng khi trở về với Mallarmé, Paul verlaine, Charles baudelaire khi tôn vinh thi ca và thi sỹ: Đặc tính của ngôn ngữ thi ca là đưa ta ghé đến một vũ trụ khác; một bầu trời tiền kiếp ở đó cái đẹp nở hoa. (tr340), tôi không muốn để nghệ thuật lộ ra…, những câu thơ nở ra dễ dàng, tự nhiên như những bông hoa.(tr341)thi , sỹ chỉ có mỗi một nhiệm vụ là sáng tạo ra cái đẹp, sáng tạo ra nhiệt tình, sáng tạo ra mê hoặc, sáng tạo ra ngây ngất. (tr342)
*
Ngoài những điều quý giá của cuốn sách mà chúng tôi đã đọc được ở trên, cuốn sách còn mang đến một cảm nhận sâu xa khi Trần Mai Châu trân trọng đặt thơ Bích Khê trước những đề tài vô tận của thơ trữ tình: ... chỉ cần nói lên nỗi da diết của mình trước cảnh thu về, bích khê đã sáng tác được câu thơ có thể nói là đẹp nhất trong thơ việt nam hiện đại:
Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông.
Rất nhiều lời bình trong cuốn sách của Trần Mai Châu nói lên một tình yêu thiêng liêng với ngôn ngữ Việt, khi tác giả nói tới thơ Nguyễn du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ mới và bao nhiêu câu thơ hay của nhà thơ Tố Hữu!
Những ý kiến của Trần Mai Châu về dịch thơ và thơ dịch cùng 29 tài liệu tham khảo để tạo nên cuốn sách dày 449 trang này (trong đó có cả Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa)…, còn ẩn chứa những hàm ý sâu sắc về văn tài, tài học, kỷ luật lao động, phương pháp dịch thơ và bình giá…Mới đây, trên tập san Lý Thường Kiệt (tại hoa kỳ) xuất hiện bài felix arvers (1806-1850) và ba người dịch thơ ông của tác giả Nguyễn Mạnh Cầm – một cựu học sinh trường PTTH Lý Thường Kiệt Sài Gòn, nơi thày Trần Mai Châu từng làm hiệu trưởng, bài viết ca ngợi bản dịch bài ( sonnet d arvers) Trình tuyệt vọng của Trần Mai Châu với nguyên bản nhất; nhiều khổ còn hay hơn cả bản dịch của Nguyễn Khoa và Khái Hưng, khiến bài Sonnet của Felix a rvers đã nổi tiếng là bài thơ duy nhất, lại càng nổi tiếng.
Là một bạn đọc ở phương trời rất xa nước Mỹ, chúng tôi xin được bày tỏ lòng cảm mến đối với tác giả, và xin gửi tới những người bạn đã trao cho chúng tôi hai cuốn sách quý của học giảTrần Mai Hương với tấm lòng biết ơn sâu sắc; giúp chúng tôi hiểu hơn và yêu hơn các nhà thơ Pháp, các nhà thơ Việt, ngôn ngữ Pháp – Việt và dịch giả.
Qua bài viết này, qua tòa soạn Tạp chí thơ của Hội nhà văn Việt Nam, chúng tôi xin gửi tới thày – học giả trần mai châu lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe./.
……………………………………………………………………….
(1) Anh đã ngắt chiếc cọng thạch thảo này
Mùa thu chết rồi em hãy nhớ
Ta sẽ không còn gặp nhau nữa
Mùi thời gian, cọng thạch thảo
Em hãy nhớ là anh đợi em
(Lời vĩnh biệt)
(2) nhan đề một số bài thơ được cho là hay nhất của các thi sỹ trong phong trào Thơ mới