Archive for the ‘Chân dung thi nhân’ Category
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi
I. Tiểu sử
Nguyễn Đình Thi thuộc thế hệ các nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông viết sách khảo luận triết học, viết văn, làm thơ, soạn nhạc, soạn kịch, viết lý luận phê bình. Ông được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc. Từ năm 1958 đến năm 1989 làm Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật.
Ông mất năm 2003 tại Hà Nội.
II. Các tác phẩm đã xuất bản:
• Xung kích (1951)
• Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957)
• Vào lửa (1966)
• Mặt trận trên cao (1967)
• Vỡ bờ (tập I năm 1962, tập II năm 1970)
2. Tiểu luận
• Mấy vấn đề văn học (1956)
• Công việc của người viết tiểu thuyết (1964)
3. Thơ
• Người chiến sỹ (1958)
• Bài thơ Hắc Hải (1958)
• Dòng sông trong xanh (1974)
• Tia nắng (1985)
• Đất nước (1948- 1955)
4. Kịch
• Con nai đen
• Hoa và Ngần
• Giấc mơ
• Rừng trúc
• Nguyễn Trãi ở Đông Quan
• Tiếng sóng
5. Nhạc
• Người Hà Nội
• Diệt phát xít
III. Giới thiệu một số thi phẩm:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm lá vẫn rơi đầy
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ đứa lột da
Xiềng xích chúng bay không khoá được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội
Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Giũ bùn đứng dậy sáng loà.
(1948- 1955)
Nhớ
Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây.
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn.
Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau cháy bỏng làm người.
Lá đỏ
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường như quê hương
Vai ác bạc quàng súng trường.
Ðoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa.
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn.
Em vẫy cười đôi mắt trong.
(Trường Sơn, 12/1974)
Vì yêu người lắm mới say thơ
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”…
(Tiếng thu)
Dù không phải đang mùa thu, nhưng ngẫu cảm về một “Tiếng thu” thinh không, mở rộng biên độ trí tưởng về một miền thơ, một nền thơ thuần khiết; một sáng nọ tôi đã “lò mò” đến ngôi nhà vườn xinh xắn của nhà thơ – nhà báo Lưu Trọng Văn – người đang giữ hầu như toàn bộ tư liệu và kỷ vật của cha ông – nhà thơ Lưu Trọng Lư. Một căn nhà trắng xinh xắn, có những ô cửa mở trông ra khu vườn. Một khu vườn rộng gần tám trăm mét vuông có nhiều cây cỏ, lá hoa.
Tôi không giấu nổi thích thú của mình. Còn anh Văn thì chợt đọc hai câu thơ: Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ/ Vì yêu người lắm mới say thơ… Là thơ Lưu Trọng Lư đấy; mà đấy cũng là “châm ngôn nghệ thuật” của đời ông! Một cuộc đời đầy sóng gió, nhưng cũng thật đẹp theo đúng nghĩa đời một thi sĩ!
Nhà thơ Lưu Trọng Lư sinh ngày 19/6/1911 tại Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Đấy là một vùng đất nằm ở phía nam bờ sông Gianh nơi có sông và núi đồi rất đẹp. Bố ông là một nhà Nho, có mối quan hệ thâm giao với những người yêu nước. Vì bất mãn chế độ phong kiến, nên đang làm quan tri huyện, khi về thọ tang cha mẹ, ông bỏ quan luôn, ở nhà dạy học. Ngay từ nhỏ, Lưu Trọng Lư đã được bố hướng theo con đường Nho học và làm thơ theo khuôn mẫu. Nhưng tính Lưu Trọng Lư vốn nghịch ngợm, ưa thích những điều khoáng đạt, mới mẻ.
Sau này, ông có kể với Lưu Trọng Văn rằng: “Hồi đó mỗi lần ông nội con nói chuyện thơ thường bắt bố đứng gãi lưng. Nhưng bố không thích nghe, chỉ thích được tếch đi chơi với lũ trẻ chăn trâu. Thế là bố “giở chiêu”… gãi thật mạnh vào lưng cụ. Ông cụ đau quá, đuổi bố đi. Bố chạy như bay ra ngoài cánh đồng với đám trẻ chăn trâu!…”.
![]() |
| Vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư cùng các con (chụp ở hiệu ảnh trên đường Nguyễn Thái Học năm 1963). |
Ám ảnh bởi những cái siêu hình, ngay từ bé, Lưu Trọng Lư đã thích nằm xuống cỏ xanh, ngước mắt nhìn những đám mây trắng phiêu du trên bầu trời. Rồi cậu bé tự hỏi. Sau những đám mây kia là cái gì? Và cái gì ở phía trên cao kia nữa?… Những câu hỏi như thế cứ đẩy đi mãi không thôi. Anh Văn còn kể, bàn tay của bố anh có “từ trường” mạnh lắm. Hồi học ở Liên Xô, anh thường mua bút bi gửi về cho cụ. Nhà thơ Lưu Trọng Lư rất thích bút mực màu xanh. Nhưng, cây bút bi nào tốt đến mấy, cụ cầm viết một lúc là… mực chảy tèm lem. Sau này, có một bác sĩ nói là, cụ có một “từ trường” rất mạnh, khá đặc biệt.
Lưu Trọng Lư mất ở Hà Nội ngày lập thu 1/7/1991, an táng tại Văn Điển. Năm năm sau, người con là nhà thơ – nhà báo Lưu Trọng Văn “tậu” được mảnh vườn rộng ở TP HCM nên đưa di hài cha vào, hỏa táng rồi đặt trong vườn nhà, coi như là đáp ứng di nguyện của người cha. Thực ra di nguyện đó chẳng nằm trong tờ di chúc hay lời trăng trối nào cả, mà đấy là tâm tư được gửi trong bài “Miếng đất”: “Tôi nào mơ nhà cao cửa rộng/ Chỉ xin dăm thước đất/ Mần cái ao nhỏ/ Đêm nằm mơ con mè con trắm chơi trăng/ Thảo lòng, trồng sống được vài cây để năm 2000 chăng chớ/ Vào tay áo này được đón gió ngàn khơi…”(Thơ di cảo).
Năm 1998 thì bà Mừng qua đời. Theo di nguyện, thi hài bà cũng mang đi hỏa táng và đem về đặt “nằm sóng đôi” bên người chồng. Anh Văn kể một câu chuyện nghe thật xúc động. Đó là khi mẹ mất được vài ngày, trong một lần soạn lại đồ đạc cũ, anh nhặt được một chiếc nhẫn vàng có khắc hai chữ L-M lồng vào nhau. Anh đã mang chiếc nhẫn ấy về Huế, trở lại những nơi trước đây mà cha mẹ anh đã đi qua. Mỗi nơi đến, anh đặt chiếc nhẫn xuống rồi chụp hình, coi như nhờ đất trời chứng giám cha mẹ anh đã từng yêu nhau, cưới nhau!…
Anh Văn cũng kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động về bức thư pháp chữ Hán viết hai chữ Tiếng thu của một người đàn ông ở Hàng Khay (Bờ Hồ, Hà Nội). Đó là vào một ngày lập thu năm 2001, Lưu Trọng Văn đang uống cà phê ở một cái quán trên đường Hàng Khay. Một cái quán đẹp, mang không khí của Hà Nội xưa. Trong quán có treo những bức trướng, liễn; chữ viết rất đẹp, có hồn. Tò mò, Lưu Trọng Văn hỏi về chủ nhân của bức thư pháp ấy, thì người chủ quán cho biết người viết ấy là ông nội của một cô bé ở gần đây. Nói rồi người chủ quán cho địa chỉ.
Nguồn: Công An Nhân Dân
Uống rượu như Trần Nhuận Minh

“Tay trong tay tôi đã bên người”

“Lãi” cả đời từ một lần “thăm lúa”

Nhiều thế hệ học sinh của chúng ta đã học giảng văn bài “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung. Đó là một trong những bài thơ hay hồi kháng chiến chống Pháp. Năm 1946, dự một đám cưới ở huyện Đô Lương, Nghệ An, Trần Hữu Thung đã viết và đọc tại chỗ bài này. Nhiều người chuyền tay nhau chép vào sổ. Sau đó, bài thơ được giải Nhất trong Festival Thanh Niên thế giới tại Đức.
Read the rest of this entry »
Nhà thơ Quang Dũng: Cẩn tắc vẫn… áy náy

Theo nhà thơ Yên Thao, trong ăn uống, Quang Dũng rất ngại gắp những thức ăn lạ. Ông nhìn chúng bằng con mắt cảnh giác, như thể ăn vào là bụng ắt… sinh chuyện. Ở nông thôn, mỗi lần đánh răng ông lại đi xin nước đun sôi về dùng chứ không chịu dùng nước giếng.
Nhà thơ Huy Cận: Hồn nhiên mà thuyết phục

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, vì công tác ở Văn phòng Bộ Văn hóa nên tôi luôn được gặp gỡ, làm việc và thường có dịp đi về các địa phương với nhà thơ, Thứ trưởng Huy Cận. Ông không có ngoại hình hấp dẫn, thậm chí hơi kềnh càng, nhưng tiếp xúc với ông, ta dễ bị cuốn hút bởi tác phong thân tình, cởi mở, ứng xử thông minh, hóm hỉnh. Xin được kể một vài câu chuyện nhỏ kỷ niệm về ông.
Yến Lan: Lãng đãng bóng giai nhân

Yến Lan đúng là một nhà thơ tài hoa và đa tình với hàng chục bóng giai nhân đi qua cuộc đời, người tình nào cũng đẹp, mối tình nào cũng đậm. Nhưng không hợp duyên hợp phận, nên nhiều cuộc tình không đi đến cùng.
Năm 1963, tôi về nhận công tác ở Nhà xuất bản Văn học. Hồi này, NXB Văn học trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam do nhà văn Nguyễn Đình Thi làm giám đốc, và nhà nghiên cứu văn học Hoài Chân – Nguyễn Đức Phiên, làm phó giám đốc thường trực.
Tên Quần Phương thân tha phương

Khi câu chuyện này đến tai nhà thơ Vũ Quần Phương, ông tủm tỉm cười chịu rằng ông bạn đồng nghiệp Vương Trọng “quả là thông minh”. Nhân thể, ông đã đọc cho tác giả viết bài này nghe một bài thơ ngắn, chỉ có 4 câu, trong đó ông nói rõ lai lịch bút danh của mình. Từ mấy chục năm nay, Vũ Quần Phương đã trở thành một cái tên quen thuộc trong làng thơ Việt Nam. Tuy nhiên, đây không phải tên thật mà là bút danh của ông. Read the rest of this entry »
Nhà thơ Nguyễn Bính: Người cài đặt nhiều “mật mã” trong thơ

