<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>THOVIET.CO.CC</title>
	<atom:link href="http://vietnamrank.com/thovietco/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://vietnamrank.com/thovietco</link>
	<description>Tuyệt phẩm thơ Việt</description>
	<lastBuildDate>Mon, 01 Mar 2010 04:42:18 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8.4</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2010/02/28/xuan-quynh-cuoc-doi-de-lai-trong-tho/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2010/02/28/xuan-quynh-cuoc-doi-de-lai-trong-tho/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 01 Mar 2010 04:42:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung thi nhân]]></category>
		<category><![CDATA[Xuân Quỳnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=221</guid>
		<description><![CDATA[Những xúc động thường trực
 
“Người ta làm thơ như thế nào?”. Đã nhiều lần, trong tôi nảy ra cái câu hỏi có vẻ tò mò vậy, mà chưa dám hỏi một ai, vì nhiều lần cứ định hỏi là mọi người tìm cách lảng. May mà Xuân Quỳnh không lảng tránh thẳng thừng. Để [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Những xúc động thường trực</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>“Người ta làm thơ như thế nào?”. Đã nhiều lần, trong tôi nảy ra cái câu hỏi có vẻ tò mò vậy, mà chưa dám hỏi một ai, vì nhiều lần cứ định hỏi là mọi người tìm cách lảng. May mà Xuân Quỳnh không lảng tránh thẳng thừng. Để giúp tôi “mục sở thị”, bên cạnh bài thơ, chị cho xem những quyển vở đã ghi chi chít những chữ là chữ: Chị đã nháp bài thơ ra văn xuôi trước khi hoàn chỉnh nó và cho nó một khuôn mặt cố định trên trang giấy.</p>
<p>- Lúc viết những dòng này, tôi như người phát cuồng. Cứ phải ghi bằng hết những ý nghĩ đang ào ào kéo đến trong đầu không cần vần vèo gì vội. Còn sắp xếp lại, đặt vần, tôi làm sau, việc ấy đơn giản hơn.</p>
<p>Ngừng một lát, dường như để nhớ lại một chuyện gì đấy, Xuân Quỳnh kể thêm:</p>
<p>- Hôm nọ có người hỏi tôi có hay thuộc thơ mình không. Quả thật, có khi tôi quên chứ không phải cái gì cũng thuộc đâu. Nhưng những bài thơ mà tôi thích thì bao giờ tôi cũng nhớ, nhớ cái tâm trạng nó chi phối mình, khi làm bài thơ ấy&#8230;<span id="more-221"></span></p>
<p>- Nghĩa là sự làm thơ ăn ở những xúc động?</p>
<p>- Người khác thế nào, tôi không biết. Với lại, ông còn lạ gì những xúc động ẩm ương của những nhân vật ấm đầu, khi viết tưởng mê man run rẩy lắm mà bài thơ vẫn nhạt như nước ốc. Nhưng đúng là bản thân tôi, lúc viết, như là bị ám ảnh, phải viết ra bằng được mới thôi. Còn hình thức thơ bốn chữ hay thơ tám chữ, chuyện ấy sẽ đến sau. Làm thơ mà có mỗi cái vần bắt không xong, thì còn tính chuyện viết lách làm quái gì nữa.</p>
<p>Nói đến đây, Xuân Quỳnh cười xoà, bảo tôi cất các thứ tài liệu chị cho mượn vào túi, rồi lảng sang chuyện khác.</p>
<p><strong>Mạch thơ hồn hậu</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Thời xưa, tương truyền có những nhà thơ xuất khẩu thành chương, những người buộc phải làm thơ về một đề tài nào đó trong một thời hạn nào đó, và danh bất hư truyền, bao giờ cũng viết nên những bài thơ đọc được.</p>
<p>Gạt đi lối bắt vần ép chữ gò gẫm kiểu mấy chàng hay chữ làm thơ con cóc, thì đúng là có những người sinh ra để làm thơ, và các bài thơ được hình thành một cách xuất thần, nghĩa là thật dễ dàng, như có ai ốp đồng vào tay vậy. Kiểu như thơ Hồ Xuân Hương:</p>
<p><em>- Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ</em></p>
<p><em>- Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông</em></p>
<p>Thơ Tú Xương:</p>
<p><em>- Sông kia rày đã nên đồng&#8230;</em></p>
<p>Ở đây tôi không dám nói trong những người làm thơ hiện nay, ai sẽ còn lại với văn học, sáng tác của ai có giá trị lâu dài. Nhưng nếu như cần nêu lên một người hình như rất gần với thơ, sinh ra để làm thơ, thì người đó là Xuân Quỳnh.</p>
<p>Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh có lần bảo tôi:</p>
<p>- Thơ Xuân Quỳnh tự nhiên, như đã gọi là phụ nữ thì phải sinh con đẻ cái vậy.</p>
<p>Sau khi đọc xong bài <em>Sóng</em>, đăng trên báo <em>Văn Nghệ </em>- đầu 1968, nhà thơ Vũ Cao cũng có tâm sự, đúng kiểu đồng nghiệp vẫn nhìn nhau:</p>
<p>- Bài này Quỳnh nó viết bợm thật. Nghĩa là đọc xong, tự nhiên mình cũng có ý nghĩ là phải viết, viết một cái gì cho ra trò một chút, cho nó phải nể.</p>
<p>Những ý kiến tương tự như thế &#8211; khen thơ Xuân Quỳnh dễ đọc, khen thơ làm tự nhiên mà thuyết phục &#8211; khá nhiều.</p>
<p>Thì ra, bên cạnh việc nhắc nhở nhau lao động kiên nhẫn, bền bỉ, chúng ta còn đều thống nhất ở một điểm nữa: vẻ đẹp cao quý nhất trong văn học phải là vẻ đẹp tự nhiên. Nó không có quyền mang dấu ấn những gắng gỏi gò gẫm nơi tác giả, dù khi viết, tác giả đã phải lao tâm khổ tứ rất nhiều. Nhà văn phải làm chủ cảm hứng của mình, phải biết “thai nghén”, chuẩn bị, lại phải mau mắn thông minh khi “sinh nở”. Nhiều người thành công cho biết càng kéo dài thời gian viết, tác phẩm càng dễ nhạt.</p>
<p><strong>Theo sự quy định của hoàn cảnh </strong></p>
<p>Ấn tượng về một cái gì tự nhiên càng rõ rệt hơn khi người ta nhìn vào con đường Xuân Quỳnh đã qua để đến với văn học.</p>
<p>Có một chi tiết tiểu sử nhiều người đã biết, ấy là trước khi làm thơ, Xuân Quỳnh là một diễn viên múa. Khi nghĩ đến nghề này, nhiều người tỏ ý coi thường và quả thật họ có lý riêng: ở Việt Nam, nghệ thuật múa chưa được nâng lên thành một hoạt động tinh thần mà chỉ dừng lại thuần tuý ở một sự khéo léo bản năng. Trường hợp của Xuân Quỳnh cũng không ra ngoài cái quy luật chung đó. ở tuổi mười bốn, thấy có thông báo tuyển văn công liền thử vào thi xem sao và từ khi thi vào đến khi chia tay chẳng qua một trường lớp nào cả.</p>
<p>Nhưng nghĩ lại thì con đường mà Xuân Quỳnh đến với thơ so với hồi đến với múa đâu có khác?! Cũng như nhiều bạn bè cùng lứa, người làm thơ này đã làm cái nghề mình có năng khiếu theo kiểu tự nhiên thích, thấy mọi người làm thì cũng thử làm xem sao, và lấy số lượng thơ được công bố để đo tính tài năng của mình; năng nhặt chặt bị, sau những bài đăng báo thì tính chuyện dồn thơ lại thành tập. Nếu cần nói tới một ám ảnh thường trực thì đấy là ám ảnh có tác phẩm được in, hay nói rộng ra, được nói to lên trước mọi người, được xuất hiện trước công chúng; ngoài ra những vấn đề như <em>thơ là gì, thơ có thể thay đổi như thế nào</em> xem như chuyện trừu tượng xa vời, không việc gì phải băn khoăn cả. Mỗi cá nhân hãy tự khẳng định đi! Còn cái cách để tự khẳng định thì trông vào những người đi trước! Chẳng hạn, một quy trình làm việc quen thuộc của các nhà thơ lúc này là đi thực tế rồi về có ngay sáng tác kịp thời, quy trình này được Xuân Quỳnh tiếp nhận một cách tự nguyện. Nhiều lần lên rừng xuống biển. Nhiều lần về các vùng nông thôn Thái Bình, Hưng Yên. Riêng hai năm 1969-1970 lặn lội vào vùng đất lửa Quảng Bình hàng tháng trời. Đi đâu trở về nhà thơ cũng có được những sáng tác mới, chúng mang được cái nhìn riêng về những vùng đất mà trước đó chị hầu như chưa quen biết. Bởi ở đâu chị cũng có được cái nhìn riêng, đồng thời tìm ra sự gần gũi giữa mình với hoàn cảnh. “Người làm thơ mang tâm hồn trang trải khắp khung cảnh, con người và sáng tác ra đời là một sự đan dệt tự nhiên giữa chủ quan và khách quan” &#8211; qua Xuân Quỳnh, một công thức quen thuộc của sáng tác như thế được ứng nghiệm và chứng minh một cách đầy thuyết phục. Xin nhắc lại rằng cái sự tự nhiên này không phải riêng của Xuân Quỳnh mà của cả hàng loạt bạn bè đồng nghiệp. Mỗi thế hệ chỉ có được cái vai trò riêng mà lịch sử giao phó cho họ.</p>
<p>Kể ra cũng có những hành động mà Xuân Quỳnh đã kiên trì theo đuổi để sống với thơ và hơn thế nữa như là chống lại số mệnh. Một thiệt thòi cho chị và cho nhiều bạn làm thơ cùng tuổi là không biết ngoại ngữ. Đau lắm thèm lắm, đành theo những lớp học thêm. Nhưng ở Hà Nội của chúng tôi những năm ấy, giá có biết tiếng sẵn cũng không có sách mà đọc, việc giao tiếp với nước ngoài bị hạn chế đến mức tối đa thì làm sao mà học được? Tôi nhớ có một dạo đi đâu trong túi xách của Xuân Quỳnh cũng có tập bài tiếng Pháp, ngoài ra không thể nhớ hết bao nhiêu lớp chị đã theo học. Bởi lẽ học ít kết quả nên các lớp đó cũng teo dần và ai muốn học lại theo những lớp mới, cả đời đi học mà cũng cả đời chưa thể gọi là biết ngoại ngữ để dùng trong công việc.</p>
<p>Rộng hơn câu chuyện ngoại ngữ, Xuân Quỳnh còn không có may mắn được học hết phổ thông mà đi công tác, tức là đi kiếm ăn sớm, và về sau gặp nhiều khó khăn trong việc tự học. Trong khi một số nhà thơ khác cũng xuất thân tương tự nhưng hồn nhiên vào đời rồi chai lỳ đi, chẳng thiết đọc nữa, chẳng những thế quay ra hoặc ngấm ngầm hoặc lớn tiếng tự hào về sự không cần học của mình thì ngược lại Xuân Quỳnh lấy làm tiếc cho mình một cách chân thành. Thành thử có một điều khiến tôi cảm động, ấy là, trong khá đông những người bạn viết văn của tôi, thì đây là một trong vài ba người biết cho sự cần thiết của nghề phê bình văn học mà tôi theo đuổi. Bao giờ nghe tôi kể rằng vừa đọc được một quyển sách hay, nét mặt chị cũng thoáng qua một nét buồn như ân hận rằng lẽ ra mình cũng phải đọc chính quyển sách đó. Thế nhưng cuộc sống xô đẩy rồi cũng phải quen dần và vẻ lam lũ đã là một phong cách ôm trùm chi phối cuộc sống cũng như công việc viết lách.</p>
<p><strong>Không viết thì phí mất!</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Hồi trước 1954, ngôi nhà 96 phố Huế vốn là một khách sạn (đâu tên cụ thể là <em>Hotel Lục quốc</em> thì phải). Được cái tiện là ở đó có nhiều loại phòng to nhỏ khác nhau. Bởi vậy, khi trở thành khu tập thể của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật, nơi đây có đủ cả những phòng khá to 25-30 mét vuông chia cho các cán bộ phụ trách hoặc những gia đình đông con, lại có những phòng toen hoẻn 9-10 mét vuông chia cho những hộ ít người hoặc các cán bộ lương thấp.</p>
<p>Vào khoảng đầu 1968, Xuân Quỳnh và gia đình bốn người (cả chồng con lẫn bà mẹ chồng) được chia hai căn phòng nhỏ như thế ở hai tầng khác nhau. Và một trong hai căn phòng ấy &#8211; cái ở tầng ba chứ không phải cái ở tầng tư &#8211; kiêm luôn mấy việc: phòng ăn, phòng ngủ, phòng tiếp khách. Thời chống Mỹ mọi người nghèo lắm, các gia đình làm gì có ti-vi với đủ loại phương tiện giải trí như bây giờ. Suốt ngày chạy vạy đong cho được cân mì hoặc mua cho được lạng thịt và lo hết việc cơ quan trở về đã đủ mệt rồi, cánh cán bộ nhà nước nhiều buổi tối không nghe đài cũng chỉ ngồi dông dài tán chuyện thời sự, cuộc sống uể oải cầm chừng lây ngay cả vào đám người làm nghề sáng tạo, thành thử thấy ai làm được cái gì cho ra tấm ra món cũng thấy quý. Một lần sau khi được tác giả đọc cho nghe một bài thơ đáng gọi là hay, mà chỉ vừa nghe nói là định viết vào tối hôm trước, tôi hỏi lại Xuân Quỳnh:</p>
<p>- Bà làm vào lúc nào thế này?</p>
<p>- Hôm qua tiễn các ông về, rồi buông màn cho thằng cu xong, tôi mới lấy giấy bút ra, lúc kê lên đầu gối lúc bò ra sàn mà viết. Gần sáng mới chợp mắt được một lúc.</p>
<p>- Sao tự nhiên lại hăng hái thế?</p>
<p>- Sống từ sáng đến chiều vớ vẩn rồi lúc bắt đầu quay về với thơ chỉ nghĩ “không viết thì phí mất!”. Thế là lại phải cố mà viết bằng được. Chỉ sợ bao nhiêu nỗ lực của mình chẳng đi đến đâu chỉ sản sinh ra được những bài thơ dở, khiến người đọc người ta dửng dưng thì cũng buồn lắm.</p>
<p><strong>Trước tiên là viết cho mình </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Hẳn ai cũng biết mối quan hệ giữa thơ và cuộc sống hàng ngày của người làm ra những bài thơ ấy là một trong những khâu thiết cốt đối với nghề thơ. Thế nhưng từ chỗ biết vậy đến chỗ có cách xử lý đúng mức là cả một chuyện rắc rối và nhiều người chỉ nhờ may mắn mà đến được với con đường đúng đắn. Xuân Quỳnh chính là một trong những người đó.</p>
<p>Chẳng hạn, chúng ta đều biết những địa danh được nói tới trong một sáng tác (tên một con sông, một dãy núi), vốn không phải là một cái gì quan trọng. Trong một bài thơ tình, xã Bảo Ninh hay xã Quang Phú, núi Cánh Diều hay núi Mây Bay thì cũng thế. Không thiếu gì người, không đến biên giới bao giờ vẫn sẵn sàng đề dưới bài thơ phục vụ kịp thời của mình mấy chữ: “<em>Biên giới Tây Nam ngày</em>&#8230;” cốt để đăng báo. Hoặc lịch sử thơ ca còn ghi lại không ít trường hợp những bài thơ xuất hiện vì cớ này song lại được tác giả lái sang một ý nghĩa đâu đâu mà bài thơ vẫn đọc được.</p>
<p>Nhưng Xuân Quỳnh sống theo một niềm tin khác, và một hành động mang tính tiểu xảo như vậy bị chị coi là gian manh, không thể chấp nhận được. Trước khi đưa ra bài thơ để mọi người cùng đọc và hy vọng rằng nó cần thiết cho họ, chị đến với thơ để nói về mình. Nhìn vào con người và sự vật chung quanh, chị thấy có bản thân ở bên trong và đấy là cái hích đầu tiên buộc chị cầm bút. Những người có quen riêng tác giả <em>Gió Lào cát trắng</em> đều biết chị có thói quen diễn tả tâm trạng của mình qua thơ đúng đến từng khía cạnh tưởng là nhỏ nhặt. Mỗi bài thơ ra đời, đều có cái lý lịch của nó. Nó chỉ ra đời với những nguyên cớ cụ thể mà người viết muốn đặt vào nó, gửi gắm tâm sự của mình trong nó. Nếu chắp các bài thơ đó lại, người ta có thể có cả cuộc đời Quỳnh. Đấy không phải là một sự khoe khoang hay láu cá nào hết. Xuân Quỳnh buộc phải viết vậy, hàng ngày, chị đã nghĩ bằng thơ, sống bằng thơ, dùng thơ để tự hiểu mình. Lúc làm xong bài thơ cũng là lúc nhà thơ thấy lòng vợi đi ít nhiều, vì những dòng chữ kia như biết chia sẻ với tác giả của nó, cả những vui sướng cực độ, lẫn những đau đớn đến xé ruột xé lòng. Một lần nào đó chị tự hào bảo riêng với tôi:</p>
<p>- Nói được niềm vui nỗi khổ của chính mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có! Như người khác không được yêu mà mình được yêu, như người khác chỉ biết im lặng mà mình biết nói, và nói lên được thành tiếng, hỏi không vui sao được?</p>
<p><strong>Nhạy cảm: ưu thế và tai vạ</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Có một bài thơ Xuân Quỳnh viết mang tên <em>Con yêu mẹ</em>, ở đó khi kể lại cuộc trò chuyện giữa hai mẹ con, tác giả ghi lại mấy câu vui vui của đứa trẻ, nào là<em> Con yêu mẹ bằng trời xanh / Rộng lắm không bao giờ hết</em>, rồi vân vi đủ thứ, và kết lại bằng câu <em>Con yêu mẹ bằng con dế.</em> Một ý tưởng đột ngột mà người ta chỉ bắt gặp ở trẻ con!</p>
<p>Cái cách đùa cợt của đứa trẻ mà nhà thơ ghi lại trong câu thơ ấy thực ra rất gần với cách nghĩ của chính Xuân Quỳnh hàng ngày. Trước mắt anh chị em cùng cơ quan hoặc là hàng xóm láng giềng, nhà thơ thường hiện ra như một con người hồn nhiên cởi mở. Chị bắt chước cách nói của người nọ, nhại những ý nghĩ buồn cười của người kia. Nhiều khi cùng chứng kiến một khung cảnh, chưa ai cười được thì con người nhạy cảm ấy đã nghĩ ra cớ để cười. Đi đến đâu là chị mang theo đến đấy sự vui vẻ, chẳng cần dụng công chị cũng kéo được mọi người bỏ công bỏ việc ngồi nghe.</p>
<p>Đó là nhờ cái tài ăn nói bẩm sinh: dù thuật chuyện mình hay chuyện người thì chị cũng biết làm bật lên cái khía cạnh hài hước của nó, và mang lại cho nó một vẻ sinh động. Thậm chí còn có thể nói có một con người văn xuôi trong cách nhìn đời của nhà thi sĩ.</p>
<p>Trong đời sống cũng như trong sáng tác, một sự nhạy cảm như thế là rất cần thiết. Nếu như nó lại được dắt dẫn bởi một lý trí sáng suốt thì sẽ có thể dẫn người ta đi rất xa. Song có một điều ngược lại mà ít ai biết: nó cũng có thể là nguồn tai hoạ và khi đó <em>da càng mỏng càng đau, </em>kẻ nhạy cảm có nghĩa là kẻ chuốc lấy nhiều xót xa ê chề hơn người khác. Khốn thay đó lại là chỗ yếu không thể khắc phục của Xuân Quỳnh! Sắc sảo khi bàn tính hộ người song trong việc mưu cầu hạnh phúc riêng thì con người ấy thường vụng dại. Đọc thơ của chị, nhất là thơ tình một hồi, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh của một người yêu rất nhiều mà nhận lại chả bao nhiêu, đơn độc đi trong cuộc đời, và lúc nào cũng cảm thấy phía trước là bất hạnh, là bão tố.</p>
<p>Ở trên tôi đã kể lúc cao hứng lên, Xuân Quỳnh từng tự hào vì nỗi được nói to lên giữa cuộc đời im lặng. Thế nhưng, những lúc vất vả quá &#8211; vất vả với nghĩa bế tắc, dằn vặt, vất vả về mặt tinh thần &#8211; Xuân Quỳnh lại quay ra mát mẻ:</p>
<p>- Thỉnh thoảng có người, thấy mình khổ quá, mà vẫn làm được thơ, tỏ ý an ủi: “Bà cứ ráng chịu, rồi chắc có thơ hay”, tôi đã trả lời thẳng thừng: “Tôi sẵn sàng từ bỏ hết những bài thơ kia đi, miễn là tôi khỏi khổ!”.</p>
<p><strong>Khao khát và lầm lỡ </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Trong cơn say sưa bộc bạch, một nữ văn sĩ từng tự nhận:<strong> </strong>“Nếu còn tin tưởng ở Thượng đế, tôi sẽ cám ơn Người đã ban cho tôi một cuộc sống gồm có những dịp lầm lỡ, cộng thêm với một chút hơi nhiều lý trí, cộng thêm với một chút hơi nhiều lòng tham vọng và ý chí ngạo mạn”.</p>
<p>Tuy ở một phương trời khác, nhưng Xuân Quỳnh có thể hoàn toàn chia sẻ với những tâm sự kiểu đó: Cái chính là ở con người này có quá nhiều tham vọng. Những chùm hoa dại trên núi Hoàng Liên nói lên những ước ao bình thường nhất mà vẫn không thành. Con đê biển tượng trưng cho sự chịu đựng, tức một sự hy sinh kể ra cũng cần thiết, nhưng lại tước đi của người ta biết bao mơ ước! Dù biết rằng những hạn chế ấy là không tránh khỏi, song trong lòng người làm thơ vẫn dậy lên những khao khát thay đổi. Có cảm tưởng với Xuân Quỳnh sự ham sống là một bản năng thường trực và càng không được thoả mãn càng thèm muốn. Ngay trong những ngày sống hạnh phúc, con người đó vẫn cảm thấy là phải mau tận hưởng, nếu không, nó sẽ qua đi rất nhanh. Cuộc sống vì thế bao giờ cũng căng lên như những sợi dây đàn, người ngoài nhìn vào thấy sợ hãi thay cho người trong cuộc, nhưng lại hiểu rằng đó là cội nguồn của sáng tạo.</p>
<p>Giữa đám bạn bè cùng nghề, người thi sĩ này thường tự nhủ: “Đối với người sáng tác, không gì sợ bằng sự nghèo nàn. Nghèo trong cảm xúc nhận xét thì không thể tha thứ được”. Trong đời sống hàng ngày cũng như trong sáng tác, không chịu được cái gì trung bình nhợt nhạt. Yêu hay ghét, đều phải hết lòng. Thà thái quá còn hơn bất cập. Và bởi lẽ xúc cảm là cụ thể, là của từng giây phút một, nên chúng thường xuyên thay đổi, một sự thay đổi đột ngột khiến người ngoài nhìn thấy chóng mặt.</p>
<p>Một người bạn của Quỳnh lúc trẻ là Bằng Việt đã diễn tả rất hay lối cảm xúc đó của tác giả <em>Gió Lào cát trắng</em>. Bài thơ <em>Người cùng đi một đường</em> chỉ có cái phụ đề “Gửi một người làm thơ cùng lứa tuổi” nhưng ai đọc cũng có thể đoán ngay là đề tặng Xuân Quỳnh:</p>
<p><em>Lại con đường đỏ rực dưới cây xanh</em></p>
<p><em>Đi như lao, như lửa cháy trong mình</em></p>
<p><em>Nhịp thơ bạn bỗng bồi hồi mạch đập</em></p>
<p><em>Những sườn dốc, rồi những cua vòng gấp</em></p>
<p><em>Băng trong đời, như bạn đã từng quen</em></p>
<p><em>&#8230;</em></p>
<p><em>Vẫn đó &#8211; gió Lào cát trắng trong thơ</em></p>
<p><em>Những thượng nguồn sông, buồn vui bất chợt</em></p>
<p><em>Như lòng bạn, lũ trào dâng đột ngột</em></p>
<p><em>Cuốn mình đi, đắp những bãi bờ xa</em></p>
<p>Về phần mình, tôi nhớ những ứng xử của Xuân Quỳnh trong đời sống hàng ngày, nét mặt bồn chồn của chị khi chị gặp một người này, khi mong được tham gia một chuyến đi kia, hoặc nỗi sung sướng và thái độ trân trọng, quý hoá, khi được cầm trên tay một cuốn sách mà từ lâu đã nghe tiếng. Có thể nói đấy là những lúc con người ấy biết sống hết từng phút giây một! Sự thiếu nhẫn nại toát ra ở cái run rẩy của giọng nói. Vẻ sốt sắng hiện lên trên nét mặt. Tham lam quá đi, mà sự tham lam ở đây lại lộ liễu quá đi &#8211; người ta có thể nhận thấy như thế, và chính Xuân Quỳnh cũng đã cảm thấy như thế. Nhưng bởi lẽ, nỗi ham muốn đã lên đến cực độ, lại hiểu rằng, vì thơ, vì sáng tác, sự ham muốn của mình là không vụ lợi (nghĩa là người ta cũng dễ tha thứ), nên Xuân Quỳnh vẫn sống vậy. Một cách sống luôn luôn mang lại những sung sướng, và đau khổ hơn người. Câu chuyện sau đây minh chứng cho điều đó: Nhà thơ có một người chị là Đông Mai hiện đang dạy học ở thành phố Hồ Chí Minh. Một lần, có một người bạn của Xuân Quỳnh từ Hà Nội vào tới thăm chị Mai.</p>
<p>- Thế nào cậu, dạo này ngoài đó, Quỳnh nó sống thế nào? Vui hay buồn?</p>
<p>Người bạn kia ngẫm nghĩ một lúc rồi trả lời:</p>
<p>- Em gái chị là một người đặc biệt, nên vui cũng vui hơn người khác mà buồn cũng buồn hơn người khác, làm sao trả lời cho rành rọt được.</p>
<p>Khi nghe kể lại như vậy, Xuân Quỳnh chỉ cười, không phản đối. Chắc trong thâm tâm Quỳnh nghĩ: “Đúng là giời đày mình, nhưng có thế, mình mới viết được”.</p>
<p><strong>Ảo tưởng dai dẳng </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Từ khi cho in những bài thơ đầu tiên, cho tới giữa năm 1988, sửa soạn tập thơ cuối cùng, Xuân Quỳnh đã có một chặng đường thơ khoảng một phần tư thế kỷ. Nhìn vào thơ, thấy con đường con người này đi khá thông thoáng: cứ đều đều vài ba năm lại có một tập thơ ra đời. Trong khi nhiều người bạn cùng lứa đã bỏ cuộc, nhiều người già đi, cũ đi, tự lặp lại mình trong thơ thì trên đại thể thơ Xuân Quỳnh vẫn giữ được cái duyên riêng, và có được cái hơi trẻ trung, tươi tắn. Chẳng những thơ bầu bạn với Xuân Quỳnh, thơ còn nâng cao con người nhà thơ lên. Qua thơ, người ta bắt gặp một Xuân Quỳnh hào phóng, nồng nhiệt, tha thiết với cuộc sống.</p>
<p>Tuy nhiên cũng từ đây cách suy nghĩ của Xuân Quỳnh có một khía cạnh mà từ lâu tôi đã muốn coi như một nhược điểm, ấy là chủ quan, chủ quan đến mức quá tự tin. <em>Biển quen theo những quy luật của mình</em>, một câu thơ như vậy buột ra trong một bài thơ viết về biển, và những người có quen biết đều hiểu rằng đó là lúc nhà thơ nói về bản thân song đều lo lắng hộ: những ngạo nghễ kiêu hãnh kiểu ấy nó có phần phỉnh nịnh tuổi trẻ nên lại càng khó gạt bỏ.</p>
<p><em>- Một tình yêu như thế vẫn y nguyên </em></p>
<p><em>- Chỉ còn lại một màu hoa rất trắng </em></p>
<p><em>- Đất qua rồi những yêu thương</em></p>
<p><em> Có chăng lời hát vẫn còn mà thôi</em></p>
<p><em>- Thời gian của ta không bao giờ mất</em></p>
<p>Không gì khác đó chính là những ảo tưởng. Những ảo tưởng trong thơ nhưng cũng là ảo tưởng trong đời sống. Những ảo tưởng này vốn không chỉ là của riêng của Xuân Quỳnh mà là của hàng loạt người cùng tuổi, song nếu ở ngoài đời người ta chỉ nói vậy thôi rồi người ta vẫn thực dụng vẫn kiếm chác, thì nhà thơ của chúng ta sống với nó một cách chân thành, đấy chính là đầu mối của nhiều bi kịch mà chị sẽ phải đón nhận.</p>
<p>Trong số những bài thơ mang ảo tưởng của Xuân Quỳnh, tôi nhớ hơn cả đến một bài mang tên <em>Có một thời như thế </em>nhà thơ cho in vào đầu 1985. Cái thời nói ở đây là quá khứ của mỗi chúng ta. Tác giả đã bắt rất trúng cái thần của nó khi miêu tả nó trong sáng, nó đẹp theo kiểu<em> mơ ước viển vông niềm vui thơ dại</em> hoặc <em>luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng, tôi đã buồn đã khóc những không đâu</em>&#8230; Ngoảnh lại cái thời đó, nhà thơ thấy mình đã thay đổi: mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc. Cùng cảm hứng về sự già đi của bản thân là suy nghĩ chung về sự chuyển biến của đời sống <em>Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết/ hôm nay non mai cỏ sẽ già</em>. Và sau hết nhà thơ kêu gọi mọi người không tự mê hoặc mình bằng quá khứ mà hãy hướng về cuộc sống trước mắt:</p>
<p><em>Quá khứ đáng yêu quá khứ đáng tôn thờ</em></p>
<p><em> Nhưng không phải là điều em ao ước </em></p>
<p>Có điều trong lúc tỉnh táo như vậy tác giả vẫn để chen vào hai câu thơ nói về mình một cách ảo tưởng:</p>
<p><em>Em biết quên những chuyện đáng quên </em></p>
<p><em> Và biết nhớ những điều em phải nhớ</em></p>
<p>Khi nghe tôi biện luận: “Người mà làm chủ được hoàn toàn tình cảm của mình như vậy thì chỉ còn là cái máy”, nhà thơ chỉ cười xoà, song tôi biết trong thâm tâm chị hiểu “rằng quen mất nết đi rồi”, làm sao mà vượt lên khỏi cái <em>chương trình</em> mà thời đại đã đặt vào mình cho được.</p>
<p><strong>Những gì còn lại </strong></p>
<p>Thời gian vốn có sức ám ảnh với tâm trí nhà thơ này. Ngay từ khi mới trên hai mươi bắt tay làm những bài thơ đầu tiên về tình yêu trong bài <em>Chồi biếc</em>, chị đã viết đại ý mình chỉ là một phần tử nhỏ nhoi trong dòng người vô tận và tự nhủ sẽ có lúc hết phiên để nhường cuộc đời đẹp đẽ này cho những cặp tình yêu khác. Vào khoảng những năm tám mươi, tức khi đã bước sang tuổi bốn mươi, thì cảm giác ấy càng nẩy nở thường trực. Bài <em>Hoa cúc</em> láy đi láy lại nỗi đau xót âm thầmkhi tự thấy mình không còn được như hôm qua:</p>
<p><em>- Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế </em></p>
<p><em> Chỉ em là khác với em xưa </em></p>
<p><em>&#8230;..</em></p>
<p><em> &#8211; Bao ngày tháng đi về trên mái tóc </em></p>
<p><em> Chỉ em là khác với em thôi</em></p>
<p>Cũng từ đây trong thơ đã len vào những giai điệu khác:</p>
<p><em>- Đường tít tắp mà ngày đang xế bóng</em></p>
<p><em>Mệt mỏi chăng hỡi người bạn đồng hành?</em></p>
<p>Sự mệt mỏi ấy trước tiên là đến từ phía cuộc sống, những lo toan chợ búa gia đình chồng con mà càng những năm gần đây, với Xuân Quỳnh, càng là một gánh nặng. Nhưng có thể là còn từ phía sáng tác nữa chăng? Tôi nhớ những lần trò chuyện, khi nào nghe tôi kể có đọc thêm được quyển này quyển kia, là y như Xuân Quỳnh có vẻ buồn hẳn đi. Hình như một người nhạy cảm như chị một lúc nào đó, đã mang máng nhận ra rằng trong thơ mình đã đi đến cùng trên con đường đã chọn, mà đi tìm những nẻo lối mới thì chưa biết ở đằng nào. Những đòi hỏi học thêm, đọc thêm, những đòi hỏi tìm sự bồi bổ của văn hoá nói chung, đến tuổi này càng thấy bức thiết, mà sức lực đâu được như xưa, thời gian còn lại rất ít. Cái bi hài kịch mà mình nhìn nhận thấy ở không ít bè bạn &#8211; bi hài kịch của những người được một hai cuốn sách đầu, đã trở thành nhà thơ nhà văn rồi, thì sống lêu têu vạ vật chả còn viết được cái gì nên hồn &#8211; cái bi hài kịch ấy, lúc nào cũng có thể đến với mình chăng? Nếu thế thì buồn, thì mỏi mệt cũng là điều khó tránh.</p>
<p>Còn nhớ khoảng 1985-1986, thỉnh thoảng tôi lại nghe Xuân Quỳnh thở ra những điều ngán ngẩm:</p>
<p>- Dạo này tôi rất chán. Nhà cửa chật chội, nóng nảy, bận bịu&#8230;</p>
<p>Tôi cũng hùa theo:</p>
<p>- Đời sống khổ quá, có lúc tôi đã tự nhủ: Chết đi, cũng chả có gì phải tiếc.</p>
<p>- Tiếc thì không tiếc, nhưng nghĩ có lúc cuộc sống này không có mình nữa cũng buồn.</p>
<p>Đến đó, câu chuyện của chúng tôi chuyển sang một hướng khác. Nhưng ra về, mà tôi cứ nghĩ vân vi mãi, chẳng lẽ người kêu rằng chán đời, chán làm thơ đó, lại là Xuân Quỳnh? Bởi những tập sách còn kia, giở trang nào ra chẳng bắt gặp một con người thèm yêu, thèm sống, và một trong những bài thơ hay nhất của người đó mang tên <em>Nếu ngày mai em không làm thơ nữa:</em></p>
<p><em>- Và trời xanh xin trả cho vô tận</em></p>
<p><em>Trời không xanh trong đáy mắt em xanh</em></p>
<p><em>Và trong em không thể còn anh</em></p>
<p><em>Nếu ngày mai em không làm thơ nữa.</em></p>
<p>Điều gì đã xảy ra với người làm thơ đó và những người cùng lứa khác? Lâu nay, cứ tưởng mình và bạn bè mình còn trẻ, nay hoá ra ở ngưỡng cửa của tuổi năm mươi rồi, những điều lúc trẻ, tưởng là xa lạ, sự sống, cái chết là điều phải bàn rồi. Đã đến lúc mình có thể chết rồi chăng? Hay chết cũng chưa thể là một sự giải thoát đích thực, để chuẩn bị cho một cái chết xứng đáng phải tiếp tục sống nữa, sống mãnh liệt hơn. Chưa kịp bàn thêm với nhau thì Xuân Quỳnh đã đi xa rồi, và giờ đây, đối với tôi, chỉ còn có cách tiếp tục tìm câu trả lời ở những dòng thơ người bạn đó đã viết.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2010/02/28/xuan-quynh-cuoc-doi-de-lai-trong-tho/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>“Cố gắng để không tuyệt vọng trong thơ”</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2010/02/28/%e2%80%9cco-gang-de-khong-tuyet-vong-trong-tho%e2%80%9d/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2010/02/28/%e2%80%9cco-gang-de-khong-tuyet-vong-trong-tho%e2%80%9d/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 01 Mar 2010 04:37:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung thi nhân]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=217</guid>
		<description><![CDATA[Nhà thơ Nguyễn Duy
SGTT &#8211; Có người bảo Nguyễn Duy dạo này… tịt rồi, bởi bộ ba trường ca Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa Tổ quốc và Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ đã hút hết tinh lực của anh. Nhưng vẫn còn một Nguyễn Duy khác, ăm ắp nỗi niềm nhân tình thế [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><img class="aligncenter size-full wp-image-218" title="01" src="http://vietnamrank.com/thovietco/wp-content/uploads/2010/02/01.jpg" alt="01" width="300" height="210" /><strong><span style="font-family: Arial; color: #ff0000; font-size: x-small;">Nhà thơ Nguyễn Duy</span></strong></p>
<p>SGTT &#8211; Có người bảo Nguyễn Duy dạo này… tịt rồi, bởi bộ ba trường ca Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa Tổ quốc và Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ đã hút hết tinh lực của anh. Nhưng vẫn còn một Nguyễn Duy khác, ăm ắp nỗi niềm nhân tình thế thái, rong ruổi cùng đoàn làm phim Đi tìm dấu tích ba vua để viết lời bình, cặm cụi dịch thơ thiền Lý – Trần, thơ Nguyễn Trãi sang lục bát và nhờ người dịch sang cả tiếng Anh, cặm cụi in rõ đẹp, rõ sang, để dành cho con cháu và để đem thơ của tổ tiên đi “gõ” nước người…</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" width="100" align="left">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><em>Thơ của anh luôn ngập tràn nỗi đau thế sự, với giọng của một nhà thơ tuẫn tiết. Điều gì khiến anh can đảm và nồng nàn như thế khi viết?</em></strong></p>
<p>Tôi viết bằng trực cảm của người trong cuộc, bằng hồn dân, tình dân, lòng dân và lời dân, với tâm niệm Ta là dân – vậy thì ta tồn tại!&#8230; Ngày xưa các cụ có câu “người có cùng thì thơ mới hay”, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến…không có người nào làm thơ hay lúc đề huề, tung tẩy. Phải sống chung tâm trạng với đám đông, với người đương thời mới làm thơ hay được. Quê tôi ở Thanh Hoá, tôi là thằng nông dân, vừa đi cày, vừa đi học, đói ơi là đói. Còn gì khổ hơn thằng lính trận, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến những gì lớn hơn bản thân mình, luôn có tâm sự của người dân, vì bản thân mình là dân, bố mình, bà con họ hàng mình là dân, những người dân ở dưới đáy.<span id="more-217"></span></p>
<p><strong><em>Đời thơ của anh “chữ tài liền với chữ tai một vần”, nhưng chuyện bài thơ Đánh thức tiềm lực được công bố rộng rãi là một bất ngờ lớn với chính anh?</em></strong></p>
<p>Thời đó (1980), thơ như thế là “gai góc” quá. Khốn nỗi, cũng giống như có ghẻ phải gãi, có thơ không thể không đọc. Oái oăm thay lần đầu tiên tôi công bố bài thơ đó lại là đọc tặng cho ông Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt – uỷ viên bộ Chính trị, bí thư Thành uỷ TP.HCM lúc bấy giờ.</p>
<p>Không ngưng nghỉ, tôi kéo một lèo khoảng mười phút hết bài thơ. Ai nấy ngồi lặng. Ông Sáu cũng im lặng chốc lát, mới chậm rãi: “Nặng lắm. Nhưng chịu được”. Hình như ông vừa trải qua một cuộc tra tấn. Rồi ông tiếp: “Nếu kể về cái tiêu cực thì tôi kể một tuần lễ không hết. Còn kể về cái tích cực thì tôi kể một tháng cũng không hết. Nhưng vấn đề ở đây không phải là chống tiêu cực hay biểu dương tích cực. Vấn đề ở đây là con người, là văn hoá. Con người có thức dậy thì đất đai mới thức dậy được…”</p>
<p>Thì ra những câu thơ “khó chịu” thế kia không phải chờ đến mai sau mới có người lắng nghe và chia sẻ. Cuối năm 1986, sau Đại hội VI đổi mới của Đảng, bài thơ đã được đăng nguyên văn trên báo Tuổi Trẻ, rồi có mặt đàng hoàng trong tập thơ Mẹ và Em năm 1987 và nhiều tập thơ tuyển sau này.</p>
<p><strong><em>Vì sao anh dành quá nhiều thời gian và bút lực cho việc dịch thơ của tổ tông? Là bậc thầy của thơ lục bát, khi dịch thơ thiền Lý – Trần và thơ Nguyễn Trãi, anh có khó khăn gì không khi chuyển nó qua thể lục bát mà vẫn giữ nguyên được cốt cách, hồn thơ?</em></strong></p>
<table style="height: 145px;" border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" width="334" align="right">
<tbody>
<tr>
<td><strong><em>&#8230; Lời nói thật thà có thể bị xử tội<br />
Lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương<br />
Đạo đức giả có thể thành dịch tả<br />
Lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường<br />
Có cái miệng làm chức năng cái bẫy<br />
Sau nụ cười là lởm chởm răng cưa&#8230;</em></strong></p>
<p><em>(Thơ Nguyễn Duy – Đánh thức tiềm lực – 1982)</em></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Cách đây chín năm tôi có dự định làm một tủ sách 12 cuốn, chắt lọc tinh hoa văn hoá Việt Nam. Mở đầu là thơ thiền Lý – Trần, sau đó là Lê, Nguyễn… rồi đến thơ thiền hiện đại thế kỷ 20. Sau đó là các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương… Và bộ ba sách ảnh về đình làng, chùa cổ, nhà thờ công giáo… được chọn lựa lại và viết theo cảm xúc của một nhà văn. Tôi muốn làm dạng sách tam ngữ, tứ ngữ, để có thể truyền bá văn hoá Việt ra bên ngoài. Mới tập sách mở đầu thôi đã mất năm năm rồi, thôi cái gì thích thì làm, không theo định mức, chỉ tiêu gì nữa…</p>
<p>Tôi chọn lục bát vì đó là cái giọng của mình, một thể thơ rất cũ, nhưng cũng nhiều cái khó. Khó nhất là làm sao lách khỏi sự vây bọc chật cứng của phiên âm Hán – Việt mà vẫn giữ được ý nghĩa và hồn thơ Hán ngữ trong xác chữ của thể thơ lục bát thuần Việt. Nhưng chính vì cái khó đó mà tôi quyết làm, như là thử vượt qua một thách thức, thích thì làm thôi. Và, tốn sức lắm. Phải làm đi làm lại nhiều lần, một bài thơ, một câu thơ, hoặc một từ nào đó. Thêm vào đó, còn có sự gợi ý, góp ý của nhiều người. Tập Thơ thiền Lý – Trần chọn lọc 30 bài thơ chữ Hán, tôi cùng nhà thơ Nguyễn Bá Chung chia nhau chuyển thể lục bát, từ năm 2000 đến 2005. Riêng 30 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tôi “đánh vật” mất đứt ba năm trời. Cũng thấy là tạm được, chứ chưa thể và không thể gọi là “được” như mình muốn. Thời gian ngày một hối thúc, vì đình làng, chùa cổ không còn cổ nữa rồi. Lên Yên Tử cũng chẳng còn là Yên Tử, đau lòng lắm.</p>
<p><strong><em>Làm lịch, làm quán đều khá thành công, dường như anh cũng có máu kinh doanh? Người ta bảo làm doanh nhân thì phải liều, phải không sợ nợ, anh thấy có đúng không?</em></strong></p>
<p>Tôi có muốn làm doanh nhân, theo lời người xưa “phi thương bất phú”, thì cũng không làm được. Làm quán, rồi làm lịch, với tôi vẫn là tự bán sức lao động của chính mình thôi, lấy công làm lời kiếm sống. Và khi đã đủ sống rồi thì chơi, không làm nữa. “Phải sống được qua cái thời nghiệt ngã/ để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời” (Bán vàng – 1980).</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" width="100" align="left">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><em>Anh có từng rơi vào khủng hoảng? Làm thế nào để thoát ra?</em></strong></p>
<p>Khủng hoảng quá đi chứ. Chung có. Riêng có. Nhiều nhất là trong suy tưởng. “Khủng hoảng thiếu thần linh / khủng hoảng thừa yêu quái” (Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ – 1990). Tôi rất tâm đắc câu nói của cố hoạ sĩ Nguyễn Sáng trong một cuộc kiểm điểm văn nghệ sĩ (do nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể lại): “Tôi không bi quan, tôi cũng không lạc quan, mà tôi hoang mang”. Nhiều khi tôi buồn, thậm chí rất buồn, nói theo cách Nam bộ là “buồn thúi ruột”. Có nỗi buồn tôi tìm cách tẩy rửa đi. Có nỗi buồn tôi tìm cách lưu giữ. Cái buồn đôi khi đồng nghĩa với cái đẹp. Tôi cố gắng để không tuyệt vọng, ít nhất là ở trong thơ.</p>
<p><strong><em>Làm thế nào để không giết chết con người trực cảm trong anh, khi cuộc đời quá nhiều đổ vỡ? Những đổ vỡ bên trong nào để lại cho anh vết thương không lành được?</em></strong></p>
<p>Phải sống sao cho tự nhiên, cân bằng, thuận với thiên nhiên và luật làm người. Nhưng làm thế nào để sống được như vậy thì chính tôi cũng đang cần được hướng dẫn.</p>
<p>Còn về sự đổ vỡ ấy à? Quả là có quá nhiều đổ vỡ. Những đổ vỡ đương đại đang “toác toàng toang” trong tôi. Cái vỡ lớn nhất là vỡ mộng, đâu có ứng riêng với một thời nào, Nguyễn Trãi đã nói từ ngày xửa ngày xưa rồi, trong bài thơ Ngẫu thành: “Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư / giác lai vạn sự tổng thành hư…”. Tôi tạm dịch: “Đời như một giấc mơ hoang / tỉnh ra mọi sự chỉ toàn ảo thôi…”. Mà thôi…</p>
<p><strong><em>Phải chăng vì thế mà anh… tu giữa chợ đời? Anh quan niệm thế nào về thiền?</em></strong></p>
<p>Phải đi qua tất cả hỗn loạn mới tới được thiền. Để đạt tới sự thanh thản, phải trải qua tất cả mọi nỗi đau đớn. Một người vô cảm, không đau nỗi đau nhân tình, thì làm sao thiền được. Cuộc đời cũng chỉ là một cái chợ, đầy chụp giật, tranh chấp, giằng xé, và mọi người đều phải vật lộn với nó, nhưng khi trong tâm mình có thiền, thì có thể vực được đạo.</p>
<p><strong><em>Không làm thơ, không bay nhảy, không rượu, đời anh sẽ ra sao?</em></strong></p>
<p>Con sâu rượu như tôi mà phải kiêng rượu thì khổ lắm, nhưng bệnh tiểu đường không kiêng không được. Nhiều khi buồn quá cũng muốn đi, nhưng lại thương bà vợ già rồi, mà con thì đi xa hết. Ngày xưa mình đi biền biệt cả mấy tháng ròng có sao đâu, giờ nghĩ đi xa chỉ có bà ấy ở nhà với con chó già ngong ngóng chờ, ốm đau chẳng ai chăm, xót lắm.</p>
<p><strong><em>Anh biết thương vợ từ khi nào vậy? Hai người đàn bà để lại cho anh nhiều day dứt nhất phải chăng là mẹ và vợ anh?</em></strong></p>
<p>Hồi xưa cũng biết thương, nhưng bây giờ mới là hành động (cười hóm hỉnh). Những bài thơ rưng rưng nhất của tôi là những bài tôi viết về làng quê và người thân của mình, về bà, về cha, mà nhất là về mẹ, về vợ, với tất cả nỗi niềm thương yêu và day dứt. Có hẳn một tập thơ để riêng kính tặng vợ</p>
<p>(Vợ ơi – 1995), chủ yếu là thơ viết vào các dịp tết ta. Tôi luôn thấy tôi là người có lỗi. Trả nợ vợ không biết trả bao giờ cho hết.</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" width="50%" align="right">
<tbody>
<tr>
<td><strong>Nhà biên kịch Nguyễn Hồ:</strong></p>
<p>“Tình yêu cuộc sống và tình yêu trong thơ của Nguyễn Duy   là một thứ lập ngôn chỉ Nguyễn Duy có được. Trung thành với những gì mình đã   lập ngôn, chất nhân văn của một con người xông xáo trên trận địa văn chương   luôn hoà quyện làm một với tình yêu cuộc sống”.</p>
<p><strong>Nhà văn Nguyễn Quang Sáng:</strong></p>
<p>“Nhìn ông Duy chẳng có tí thơ nào cả: chân bè, mặt ngắn,   người lùn; nhưng thơ của Duy thì lại… rất thơ”.</p>
<p><strong>Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:</strong></p>
<p>“Hình hài Nguyễn Duy giống như đất hoang, còn thơ Nguyễn   Duy là thứ cây quý mọc trên đất hoang đó”.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Anh còn đóng góp quan trọng cho sự thành công lớn của nghệ sĩ Ea Sola Thuỷ khi cộng tác viết lời bài hát trong hai vở múa đương đại Hạn hán và cơn mưa, Ngày xửa ngày xưa&#8230;</p>
<p>Đó là một câu chuyện đẹp. Hạn hán và cơn mưa dựng trên nền nhạc chèo ở Bắc bộ. Ngày xửa ngày xưa dựng trên nền nhạc tài tử ở Nam bộ. Cả hai tác phẩm này đã lưu diễn thành công qua hàng chục quốc gia, tại nhiều liên hoan nghệ thuật quốc tế, góp phần truyền bá tinh hoa văn hoá Việt Nam ra thế giới. Do cái duyên tình cờ mà tôi cộng tác thôi, chứ việc đó không nằm trong sự nghiệp của tôi.</p>
<p><strong><em>Anh đã tìm được sự yên ắng cho riêng mình chưa?</em></strong></p>
<p>Cũng có lúc bức xúc quá tôi định nhảy qua hoạt động xã hội, nhưng rồi nghĩ mình sẽ thất bại nên thôi. Trời sinh ra làm nghệ sĩ phải sống cho đến cùng cái đời nghệ sĩ. Nhà văn không thể là cái đuôi của nhà chính trị. Nếu anh biến thành cái đuôi của nhà chính trị, sẽ tự đánh mất mình, và đánh mất luôn cả sự tự do sáng tác. Tôi vẫn có cảm giác mình đang động quá. Cần phải tĩnh lại.</p>
<p><strong><em>Từng trải qua những lần giáp mặt với cái chết trong cuộc chiến khốc liệt mà không hề sợ hãi, nhưng ở tuổi này, khi đối diện với những bất trắc, những căn bệnh hiểm nghèo, anh có sợ hãi không?</em></strong></p>
<p>Bây giờ, tôi vẫn không sợ chết mà chỉ sợ ngoắc ngoải. Sợ sống thực vật. Và sợ làm khổ vợ con. Tôi còn nợ mình vài ba cuốn sách viết về chính sự trải nghiệm của mình. Vì thế, chỉ còn mỗi một cách để vượt qua những sợ hãi kia là chúi mũi vào mà viết. “Ta chúi mũi hà hơi lên trang bản thảo / hô hấp nhân tạo những con chữ khó thở”.</p>
<p align="right"><strong>thực hiện Kim Yến<br />
ảnh Trần Việt Đức</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2010/02/28/%e2%80%9cco-gang-de-khong-tuyet-vong-trong-tho%e2%80%9d/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hồ Xuân Hương</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/ho-xuan-huong/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/ho-xuan-huong/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 09:03:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung thi nhân]]></category>
		<category><![CDATA[Hồ Xuân Hương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/ho-xuan-huong/</guid>
		<description><![CDATA[Đôi điều về nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương 胡春香
Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><span id="nmctl_ctr542_ArticleList_ctl00_productDetail"><span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;"><strong>Đôi điều về nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương 胡春香</strong></p>
<p>Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn đề đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu. Riêng về cuộc đời riêng tư của nhà thơ, cho đến nay vẫn còn là những dấu hỏi, chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng tin cậy cả. <span id="more-190"></span></p>
<p>Trong phần mở đầu bài thơ Hồ Xuân Hương &#8211; người đó là ai cố nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Trung Thông, nguyên Viện trưởng Viện Văn học vốn người xứ Nghệ, làng Quỳnh Đôi &#8211; Quỳnh Lưu đã viết:</p>
<p></span></p>
<div style="margin-left: 40px;">
<div style="margin-left: 160px;"><span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Người ta nói nhiều về </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Hồ Xuân Hương </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Nhưng người đó là ai </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Thật mỉa mai </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Không ai biết rõ </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Như có như không như không như có </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Nàng ở làng Quỳnh </span><br />
<span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Nàng lại ở phường Khán Xuân </span></div>
</div>
<p><span id="ShowHide3_cnt" style="display: block;">Mờ mờ tỏ tỏ&#8230;Qua đoạn thơ trên, đủ thấy việc nghiên cứu, giới thiệu tiểu sử nữ sĩ họ Hồ quả là một việc phức tạp. Đó phải chăng cũng là một hiện tượng đặc biệt của nữ sĩ? mà giới nghiên cứu văn học nước nhà luôn luôn quan tâm trong nhiều thập kỷ.</p>
<p>Việc dựng một tiểu sử đầy đủ, chân thực, chính xác về Hồ Xuân Hương vẫn là đề tài nghiên cứu nóng hổi đang chờ phía trước đối với các nhà nghiên cứu.</p>
<p>Cho đến nay, bằng những tư liệu văn học và qua những nguồn thư tịch (tuy chưa có cơ sở chắc chắn), nhưng các nhà nghiên cứu của nhiều thế hệ đã cố gắng vẽ nên hình dáng cuộc đời của nhà thơ, mặc dù giữa họ còn những dị biệt, nhưng cũng đã có nhiều điểm tương đồng:</p>
<p>Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (胡丕演) (1703-1786) ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An (1). Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ &#8211; Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó.</p>
<p>Trước khi nữ sĩ chào đời, gia đình thầy đồ Diễn dọn về ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây &#8211; Hà Nội bây giờ). Lúc Hồ Xuân Hương đã lớn, gia đình về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư &#8211; Hà Nội). ở tuổi thành niên, nữ sĩ có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường(2).</p>
<p>Nhiều tài liệu cho biết, Hồ Xuân Hương ở với mẹ, có đi học, sáng dạ, thông minh, nhưng không được học nhiều, thích làm thơ. Bà có một bạn thơ rất đỗi tri âm, tri kỉ là Chiêu Hổ. Nhưng Chiêu Hổ là ai? vẫn còn là một ẩn số?</p>
<p>Cuộc đời riêng tư của nữ sĩ chịu nhiều đau khổ. Bà lấy chồng muộn, xây dựng gia đình, nhưng chẳng mấy hạnh phúc &#8211; Cuộc hôn nhân (làm lẽ) với Tổng Cóc, một tên ác bá, ngu dốt, là một nỗi đau buồn của nhà thơ. Khi làm lẽ ông Phủ Vĩnh Tường cũng chẳng vui vẻ, hạnh phúc gì hơn!</p>
<p>Như vậy, qua nghiên cứu khác nhau, cho thấy đã có một sự đồng nhất về quê hương bản quán, nơi sinh, nơi ở và cuộc đời riêng tư của bà &#8211; Điểm dị đồng là người cha?</p>
<p>Còn về năm sinh tháng đẻ, có nhiều tài liệu rất chung chung: &#8220;<em>Bà sống vào khoảng cuối Lê, đầu Nguyễn</em>&#8220;. Đây là một quãng thời gian hết sức co dãn, rất rộng (3), cốt để dung hoà nhiều giả thiết về thời điểm sống của nhà thơ, trước khi chưa có một tài liệu đủ cơ sở chắc chắn khẳng định thời điểm sống của bà. Trong gia phả của họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi có chép Hồ Xuân Hương ở đời thứ 12, là con của Hồ Phi Diễn, và sinh năm 1772, mất năm 1822</p>
<p>Nhưng mới đây người ta đã phát hiện một tài liệu mới nhất <strong><em>Xuân đường đàm thoại</em></strong>,  có nhiều tư liệu để giải thích thời điểm sống của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Nếu căn cứ vào những chi tiết trong <strong><em>Xuân đường đàm thoại</em></strong> thì Hồ Xuân Hương sinh ra vào đầu triều Nguyễn. Nếu đó là hiện thực, buộc chúng ta phải xếp nữ sĩ Hồ Xuân Hương vào &#8220;Chiếu văn học&#8221; của triều Nguyễn chứ không phải là triều Tây Sơn, lại càng không phải thời &#8220;cuối Lê&#8221;. Việc sắp xếp này có một ảnh hưởng lớn đến văn học sử Việt Nam, cũng như những nhận định, bình giá thơ văn của nữ sĩ.</p>
<p>Và nếu như <strong><em>Xuân đường đàm thoại</em></strong> là đúng, thì Hồ Xuân Hương cũng không thể qua đời trước 1842 một thời gian rất lâu, như ta đã biết qua <strong><em>Thương sơn thi tập</em></strong> của Nguyễn Phúc Miên Thẩm &#8211; tức Tùng Thiên vương &#8211; bởi năm 1842 Tùng Thiên vương hộ giá vua Thiệu Trị ra Bắc Hà tiếp sứ thần nhà Thanh, ông có tới vãng cảnh hồ Tây và đã viết một loạt 14 bài thơ, trong đó có bài tỏ lòng thương cảm nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã quá cố: &#8220;<em>&#8230;.Chớ có dẫm lên mộ Xuân Hương nhé. Vì ở dưới suối vàng, nàng còn đang ôm mối hận rút nhầm</em>&#8220;</span></span></div>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/ho-xuan-huong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đôi nét về tác gia Nguyễn Công Trứ</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/doi-net-ve-tac-gia-nguyen-cong-tru/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/doi-net-ve-tac-gia-nguyen-cong-tru/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 09:01:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung thi nhân]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=188</guid>
		<description><![CDATA[
Nguyễn Công Trứ (1778–1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.
 Tiểu sử
Nguyễn Công Trứ quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay từ thuở còn hàn vi ông [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><img class="aligncenter size-full wp-image-189" title="nguyncongtru" src="http://vietnamrank.com/thovietco/wp-content/uploads/2009/10/nguyncongtru.jpg" alt="nguyncongtru" width="180" height="233" /></div>
<div style="text-align: justify;"><span>Nguyễn Công Trứ (1778–1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.</span><br />
<span> </span><span id="more-188"></span><br style="font-weight: bold; font-style: italic;" /><span><span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Tiểu sử</span></span></p>
<p><span>Nguyễn Công Trứ quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:</span></div>
<div style="margin-left: 160px;"><span><span style="font-style: italic;">Đã mang tiếng ở trong trời đất</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Phải có danh gì với núi sông.</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Năm 1820 khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên. Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của ông. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ quân sự, kinh tế tới thi ca.</span></p>
<p><span>Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, tới chức thượng thư, tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú v.v.</span></p>
<p><span>Năm Tự Đức thứ nhất 1847 ông nghỉ hưu với chức vụ Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên. Ông đúng là một vị quan văn &#8211; võ song toàn đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước.</span></p>
<p><span><span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Sự nghiệp</span></span><br style="font-weight: bold; font-style: italic;" /><br />
<span><span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Quân sự</span></span></p>
<p><span>Do chính sách hà khắc của nhà Nguyễn dưới triều đại Gia Long và Minh Mạng nên đã xảy ra liên tiếp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân. Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng, đánh đâu thắng đó: 1825 dẹp Khởi nghĩa Lê Văn Lương, 1827 dẹp Khởi nghĩa Phan Bá Vành, 1833 dẹp Khởi nghĩa Nùng Văn Vân, 1835 dẹp giặc Khách. Đến đời vua Tự Đức thứ 11 (1858), khi Pháp tấn công Đà Nẵng, thì ông đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc.</span><br />
<br style="font-weight: bold; font-style: italic;" /><span><span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Kinh tế</span></span></p>
<p><span>Ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay), Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) vào những năm cuối thập niên 1820, đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực kinh tế được nhân dân các vùng kể trên ghi nhớ. Hiện nay còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương ông.</span></p>
<p><span><span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Thơ ca</span></span></p>
<p><span>Nguyễn Công Trứ là người có tài. Là một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông khinh bỉ và ngán ngẩm nó.</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Thế thái nhân tình gớm chết thay</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Hay:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Tiền tài hai chữ son khuyên ngược</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Hoặc:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Ra trường danh lợi vinh liền nhục</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Vào cuộc trần ai khóc trước cười.</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Trong xử thế ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm quan thì cũng như thằng leo dây và không giấu sự ngạo mạn:</span></div>
<div style="margin-left: 160px; text-align: justify;"><span><span style="font-style: italic;">Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đã sa xuống thấp lại lên cao.</span></span></div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Chán chường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời. Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với ông cái gì cũng có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế.</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Trời đất cho ta một cái tài</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Ngất ngưởng, ngông nghênh, về hưu đi chơi ông không dùng ngựa mà dùng bò. Bảy mươi ba tuổi ông cưới vợ, trả lời cô dâu khi nàng hỏi tuổi:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Năm mươi năm trước, anh hai ba</span></span></div>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là người đầy khí phách:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Kiếp sau xin chớ làm người</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Làm cây thông đứng giữa trời mà reo</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Giữa trời vách đá cheo leo</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ai mà chịu rét thì trèo với thông</span></span></div>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<span>Ghi chú: Cây thông trong cách hiểu Nho-Khổng giáo là người quân tử.</span></p>
<p><span>Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi.</span></div>
<p><span><br />
</span></p>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/doi-net-ve-tac-gia-nguyen-cong-tru/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhà Thơ Bảo Định Giang</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nha-tho-bao-dinh-giang/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nha-tho-bao-dinh-giang/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 09:00:26 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung thi nhân]]></category>
		<category><![CDATA[Bảo Định Giang]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=186</guid>
		<description><![CDATA[.	Tiểu sửTên khai sinh là Nguyễn Thanh Danh, sinh tháng 11 năm 1919, tại xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Các bút danh: Nguyễn Thanh, Thu Thủy, Văn Kỳ Thanh, Nguyễn Tịnh Hà. Ông xuất thân từ gia đình điền chủ bị phá sản, đã tốt nghiệp trung học thời Pháp thuộc, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><span style="color: #000080;"><span style="font-weight: bold;">.	Tiểu sử</span></span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Tên khai sinh là Nguyễn Thanh Danh, sinh tháng 11 năm 1919, tại xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Các bút danh: Nguyễn Thanh, Thu Thủy, Văn Kỳ Thanh, Nguyễn Tịnh Hà.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><span id="more-186"></span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Ông xuất thân từ gia đình điền chủ bị phá sản, đã tốt nghiệp trung học thời Pháp thuộc, tham gia sáng lập Hội khuyến học tỉnh Mỹ Tho cùng với bác sĩ Dương Tấn Tươi.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Tham gia cách mạng từ năm 1945, giữ các công việc trong Ban Tuyên truyền lưu động chiến khu 8, Ban Tuyên huấn Bộ tư lệnh Nam Bộ, Bí thư chi bộ xã Tân Hòa…</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Năm 1953 – 1977 công tác tại chiến khu Việt Bắc và Hà Nội đã giữ chức vụ như Vụ phó Vụ Tuyên truyền – đình chiến (thuộc Ban Tuyên huấn TW), Trưởng phòng Văn nghệ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Phó vụ trưởng Vụ Văn nghệ dân gian Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ, Tổng biên tập NXB Văn nghệ giải phóng, Giám đốc xưởng phim Giải Phóng. Phó Tổng thư ký Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Năm 1977 đến nay: chuyển công tác vào thành phố Hồ Chí Minh kinh qua các chức vụ như Bí thư Đảng Đoàn Hội văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Liên hiệp Các Hội Văn học nghệ thuật thành phố, Tổng biên tập báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Phó chủ tịch UBTQ các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều công tác đoàn thể khác như ủy viên Hội đồng nhân dân thành phố Khóa II, III, ủy viên Mặt trận tổ quốc, ủy viên Ủy ban thiếu niên nhi đồng thành phố… </span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Ông được rất nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương độc lập hạng II, Huân chương chiến công hạng III, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng I, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương vì sự nghiệp văn học VN&#8230; </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Năm 2000, được giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Nhà thơ Bảo Định Giang mất ngày 1 tháng 2 năm 2005 tại TP. Hồ Chí Minh.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"><span style="font-weight: bold;">II. Tác phẩm</span></span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">-<span style="font-style: italic;"> Những con số máu</span> – Phòng Chính trị chiến khu 8 – 1949.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Đường giải phóng</span> – Thơ, NXB Tác phẩm mới – 1977.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Đêm huyền diệu</span> – Thơ, NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1985.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Dòng sông cuộc đời</span> – Thơ, NXB Tiền Giang – 1986.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Mây trắng và bến Nhà Rồng</span> – Thơ, NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1989.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Ca dao Bảo Định Giang</span> – NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1990.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Đảng lời nguyền</span> – NXB Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh – 1991.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Những bàn tay xây dựng </span>– Kịch nói 3 màn – NXB Đồng Tháp – 1949.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Kịch bản phim Lục Vân Tiên </span>– xí nghiệp phim TP. Hồ Chí Minh – 1990.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX</span>, NXB Văn học – 1962.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Văn nghệ một thời để nhớ</span>, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh – 1994; NXB Văn học tái bản – 2001.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Mấy vấn đề văn nghệ yêu nước và cách mạng</span>, NXB Văn học – 1964.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Nguyễn Thông, con người và tác phẩm,</span> NXB T.P. Hồ Chí Minh – 1984/2002.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">- <span style="font-style: italic;">Bùi Hữu Nghĩa, con người và tác phẩm,</span> NXB Trẻ &#8211; 2001.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> &#8211; <span style="font-style: italic;">Những ngôi sao sáng trên bầu trời Văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX</span>, NXB Trẻ &#8211; 2001.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Và nhiều tập ca dao, thơ trào phúng v.v… (*).</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"><span style="font-weight: bold;">III. Những kỷ niệm về nhà thơ Bảo Định Giang </span></span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"><span style="font-style: italic; font-weight: bold;">1. Cố nhà văn Mai Văn Tạo đã viết trong bài “Một đời chiến đấu, một đời thơ” <sup>1</sup> trên Báo Văn nghệ, tháng 10-1992, khắc hoạ rõ nét chân dung: </span></span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">“Bảo Định Giang còn có cái lạ đối với tôi. Anh làm việc hết sức cần mẫn và sức dẻo dai đến kinh ngạc. Hồi còn ở Hà Nội, anh vừa là Thường trực Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật, lo toan trăm thứ ngổn ngang, túi bụi hàng ngày, như tôi đã nói, còn là Tổng biên tập báo Văn nghệ Trung ương, Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng, Giám đốc xưởng phim Giải phóng. Công việc rối mù từ sáng sớm đến đêm. Đêm anh còn viết lách đến một, hai giờ sáng. Lắm khi suốt đêm. Có lẽ vì thế mà giọng anh khàn đặc. Anh làm việc rất dữ, sáng tác cũng tợn. (Dữ và tợn tôi nói theo nghĩa tốt). Hồi ở Hà Nội, còn trẻ (bốn năm mươi) còn sức sống không nói làm gì. Giờ đây anh đã quá tuổi thất tuần – cái tuổi xưa nay hiếm – đã mổ ba lần và cắt bỏ mật từ lâu, phong thái làm việc của anh không kém mấy ngày xưa.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Nhiều lần đi với anh về những nơi xa, Đồng Tháp, Mộc Hóa, Tiền Giang, An Giang… ngồi xe cả ngày, đến nơi mệt lả, chín mười giờ tôi đã lăn ra ngủ. Mệt quá! Quá nửa đêm, thức giấc, vẫn sáng đèn. Bảo Định Giang, gò lưng trên giường, tay chân khẳng khiu như những ống tre non dầm nắng, anh đang viết cái gì đó hoặc làm thơ. Tôi biết nếu bây giờ mà tôi trỗi dậy, anh sẽ ngừng tay dòng cảm hứng, châm trà trò chuyện với tôi, không biết đến giờ nào. Anh quý bạn, ngại bạn phiền. Với ai cũng vậy. Hình như thói quen nghề nghiệp quản lý văn nghệ sĩ – kiểu riêng anh – trở thành như quán tính đối với anh. Chuyện với anh bao giờ cũng thú vị, ở đâu, lúc nào cũng là chuyện sáng tác, văn thơ nghệ thuật, chuyện cuộc sống, cuộc đời bổ ích, chớ không phải chuyện tào lao, phù phiếm, tầm thường. Tiếp xúc với anh em từng địa phương, từng lúc anh lắng nghe, chăm chú tìm hiểu thấu đáo và góp ý giúp đỡ.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Anh làm việc hùng hục như người nông dân mẫn cán, chỉ lo cho đất, cho lúa, ít nghĩ đến thân mình. Những năm trở lại đây Bảo Định Giang viết rất dữ (với nghĩa tốt) anh làm thơ, viết chính luận, ký, biên khảo, ca dao, câu đối, thơ trào phúng, châm biếm… Đã in mấy tập thơ và biên khảo (tự bỏ tiền ra in) đề tài của anh là truyền thống danh nhân lịch sử, đất nước quê hương. Anh viết như người chạy đua nước rút. Phải chăng vì anh cảm nhận thời gian hết sức khắc nghiệt với người cao niên?</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Lắm khi tôi thầm nghĩ: “Làm việc kiểu cha này không thể chết vì lão, mà chết vì lao”.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Có thể lắm! Bởi lẽ anh làm việc với cường lực, cường độ như vậy, nhưng anh ăn uống hết sức đạm bạc, đạm bạc đến khắc khổ! Anh không uống được sữa, không mấy thích hủ tíu, mì. Đến xứ nào anh cũng tìm cho được bắp, chuối, khoai lang. Gần như món ăn thường nhật. Ăn rất ngon lành. Trong túi xách của anh không lúc nào thiếu một trong ba thứ ấy. Tôi để ý anh nhiều lắm, bữa tiệc linh đình, thịnh soạn anh vẫn ăn như bữa cơm thường đạm bạc ở nhiều nơi. Anh ăn qua loa rồi ngồi đó khuyến khích anh em ăn.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Bảo Định Giang yếu đau như vậy, nhưng rất chịu đi. Xa mấy, cực mấy cũng đi. Ăn ở sao cũng được, chẳng phiền hà. Lên Đồng Nai giúp anh em làm báo văn nghệ. Lúc văn nghệ còn nghèo, trưa anh kéo bàn kê lại ngủ trưa. Lần đến Mộc Hóa, chúng tôi muốn đến một số nơi xa. Huyện định đưa chúng tôi đi bằng “tắc ráng” có mui, để tránh nắng, phòng mưa. Anh chối ngay: “Các anh cho tụi tui chiếc xuồng ba lá nhỏ, có mái được rồi. Nắng mưa có gì đáng ngại. Xuồng nhỏ dễ đi, “tắc ráng” rình rang bất tiện”.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Hôm về Châu Đốc, tôi muốn đưa anh vào đồn cũ Vĩnh Thông, nơi ngày xưa thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa đến đây trấn đồn “đoái công chuộc tội”.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Bảo Định Giang náo nức đi ngay. Đến tận nơi lưu đày nhân vật cuốn sách anh đang viết. Anh không cần biết độ đường khá xa – trên tám mươi cây – và đầy dẫy ổ gà.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Tự nhiên sao tôi muốn viết về anh, những chuyện không đầu không đuôi. Tôi có biết gì về anh nhiều lắm đâu! Một con người đã dành hơn hai phần ba đời mình cho cách mạng cho thơ, dành trọn tuổi trẻ của mình cho hai cuộc kháng chiến.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Kỷ niệm giữa tôi với Bảo Định Giang gồm những chuyện hết sức bình thường. Tỉ như bữa cơm trưa với tương kho và rau muống luộc tôi và anh ăn tại đồn biên phòng Mộc Hóa năm nào. Tỉ như buổi tối đầu tiên từ rừng U Minh ra Hà Nội, tôi đang ăn cơm vui vẻ với gia đình, chợt thấy Bảo Định Giang lù lù ngay cửa tự lúc nào. Anh lặng lẽ (chắc cũng khá lâu?) nhìn cuộc trùng phùng của bạn vừa từ chiến trường ra. Chúng tôi đứng lên. Anh tươi cười vỗ bộp lên vai tôi: “Còn lội nổi ra đây là mừng rồi!”. Câu nói ngắn gọn nhưng khó quên! Nói câu ấy, chắc anh nhớ lại trận sốt rét tai ác quật ngã anh ba tháng trời tại rừng núi Hạ Lào? Vậy đó, tôi nhớ anh toàn những chuyện vụn, linh tinh. Phải đâu ở đời chỉ nhớ những chuyện lớn lao, những điều trọng đại. Trong mỗi con người thực ra có chuyện nào là nhỏ?</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Sao ta có thể lãng quên? Lâu lắm rồi, ta cũng đã lãng quên ta! Quên cả những ngày tháng đáng nhớ! Quên cả những gì của bạn đáng yêu. Dĩ nhiên không ít những điều đáng trách. Ai dám bảo trong ánh hào quang rực rỡ không có những hạt bụi len vào. Cái dở, cái điểm yếu ai mà không có. Cái hay cái đẹp của từng người phải chịu khó nhìn và có cách nhìn mới thấy hết.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Thấy để mà tự tin ta, &#8211; tự yêu ta – dù ta chỉ là một bánh xe nhỏ, rất nhỏ trong guồng máy của cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"><span style="font-style: italic; font-weight: bold;">2. Giáo sư, nhà phê bình văn học Trần Thanh Đạm trong bài “Những sợi tơ và những giọt lệ” <sup>2</sup> có cái nhìn riêng về tác phẩm: </span></span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">“Văn thơ là sự giao lưu, nhiều khi là sự kỳ ngộ, giữa người với người. Rất lâu trước khi tôi được quen biết rồi thân thiết với anh Bảo Định Giang, tôi đã được gặp anh qua thơ của anh, một sự gặp gỡ có thể được gọi là kỳ ngộ, đáng ghi nhớ suốt đời. Năm 1950, trên đường núi Trường Sơn, (Trên đường Trường Sơn / Cao đèo thẳm suối / Ngút rừng quạnh núi, Xanh con mắt ròn / Tiếng ve dắng dỏi / Trăng rừng chon von – Chế Lan Viên), từ Bình Trị Thiên ra Thanh Nghệ Tĩnh để lên Việt Bắc, tại một trạm vận tải ở miền Tây Quảng Bình, tôi đã được gặp thơ anh trong một quyển sách quý thời bấy giờ là <span style="font-style: italic;">“Tập văn cách mạng và kháng chiến”</span> in tại Việt Bắc; Sách này cùng với những số báo Văn nghệ, Sự Thật, Vệ Quốc Quân, v.v… từ Trung ương theo các đoàn vận tải súng đạn và gạo muối đi về các chiến trường phương Nam. Sách này là tuyển tập các tác phẩm đầu tiên của văn học kháng chiến.Về văn xuôi có Đường vui, Gió Lào của Nguyễn Tuân, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương, Buổi chợ Trung du của Ngô Tất Tố, thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận… Tác phẩm miền Nam có thơ Khương Hữu Dụng (Một tiếng chim kêu sáng cả rừng), của Phạm Phú Thuần ở Liên khu V. Về Nam bộ có một bài ký về cuộc trở về của các tù chính trị Côn Đảo, trong đó có cụ già Thắng (tức Bác Tôn). Những trang đầu của Tuyển tập in ca dao kháng chiến Nam bộ, bài thứ nhất là bài Tháp Mười đẹp nhất bông sen… có ghi tên tác giả rõ ràng: Bảo Định Giang. Ngoài hai câu ca dao đó, còn có các câu khác nữa của Bảo Định Giang mà tôi sẽ nói đến sau đây. Câu ca dao bông sen Tháp Mười có lẽ là một trong số bài thơ hay nhất về Bác đến nỗi trở thành ca dao dân gian. Ít người nhớ và biết đến tác giả. Hồi bấy giờ, ở Bình Trị Thiên cũng có một câu hò giã gạo về Bác Hồ của nhạc sĩ Nguyễn Khoa Châu, tức Hải Châu, em ruột nhà văn Hải Triều, hi sinh năm 1950 trên đường trở về từ chiến trường Bình Trị Thiên, mà người ta cũng tưởng là câu hò dân gian, không ai biết tác giả. Bài này cũng có mặt trong Tuyển tập thơ văn nói trên, bên cạnh câu ca dao của Bảo Định Giang.</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Tôi không có gì phải nói thêm về hai câu ca dao nổi tiếng đó vì mọi người đều biết. Tôi muốn nói thêm rằng cùng với hai câu ca dao ấy trong tập sách mà tôi đã gặp trên nẻo đường kháng chiến của tôi còn mấy câu tiếp theo cũng của Bảo Định Giang liền sau đó. Đó là mấy câu:</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify; color: #000080;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Bấy lâu gian khổ đã từng</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Muối tiêu mít luộc vang lừng hát reo</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chúng mình có nước thì yêu</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đã theo nghĩa cả thì theo đến cùng…</span></span></div>
</div>
<div style="text-align: justify; color: #000080;">
<span>Tôi nhớ lại ngày ấy mấy câu đó đã vang dội và thấm thía sâu xa trong lòng tôi như thế nào. Hình ảnh của sự gian khổ kháng chiến ở Bình Trị Thiên ngày đó là “rau tàu bay chấm nước ruốc” (được tả trong tiểu thuyết Chiến khu Thừa Thiên của Lưu Trọng Lư). Câu ca dao của Bảo Định Giang cho tôi biết thêm một hình ảnh gian khổ của bưng biền Nam Bộ: “Mít luộc chấm muối tiêu” (Sau này là “tương tư một tán đường” của Xuân Miễn). Nhưng đặc biệt nhất là hai câu cuối. Tôi không biết ngày nay thế hệ trẻ cảm nhận hai câu đó như thế nào nhưng ngày đó, nó là lời thề, lời nguyền, không hề cao giọng, lên gân mà son sắt như ghi khắc tận xương tủy và tâm hồn. Biết bao người đã lên đường và đã liên tục đi hết con đường 30 năm, không lùi bước, không bỏ cuộc, nhờ một lời thề của mình với mình, mình với bạn như thế. Riêng tôi, tôi vô cùng biết ơn mấy câu thơ đó của Bảo Định Giang đã đến với tôi ngày tôi mới 18 tuổi, theo cha anh, theo bạn bè đi kháng chiến cứu nước và đã may mắn theo nghĩa cả đến cùng, cho đến hôm nay. Tôi nghĩ khi viết những câu thơ đó, anh Bảo Định Giang cũng không ngờ về sau nó trở thành ca dao của nhân dân, trở thành tâm niệm của những người yêu nước. Rõ ràng thơ là con đường từ trái tim đến với trái tim, đồng cảm, đồng điệu, có khi thật đơn sơ mà kỳ diệu.</span></p>
<p><span>Cho tôi nói thêm một lần nữa, tôi đã gặp thơ Bảo Định Giang như thế nào. Năm 1965, trong bài viết nổi tiếng <span style="font-style: italic;">“Ngôi sao càng nhìn càng thấy sáng”</span> kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu, đồng chí Phạm Văn Đồng có nhắc đến bài thơ của Nguyễn Tư Giản viết tặng Nguyễn Thông cuối thế kỷ XIX, hồi Pháp mới chiếm Nam Bộ. Nguyên tác bằng chữ Hán, đồng chí trích mấy câu từ bản dịch của Bảo Định Giang:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify; color: #000080;">
<div style="margin-left: 160px;"><span><span style="font-style: italic;">Bao giờ Bến Nghé lại trong</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Cho dòng sông Nhị vang lừng khải ca</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chở thuyền lên tận Ngân hà</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Bể xanh ra ngắm trăng ngà sáng soi</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Cảnh tình nghĩ lại chưa vui</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Non sông còn gánh hai vai nặng nề…</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đêm qua cùng bác tỉ tê</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Vần thơ bay múa đèn khuya chập chờn</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Lưu nhau không ở thêm buồn</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Miền Nam khói tỏa mưa tuôn ngập trời</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Xa nhau cũng gắng lên thôi</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Lên lầu trăm thước mà coi nước nhà</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đừng cho Hà Bá cười ta;</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Non sông thế ấy vậy mà gào suông…</span></span></div>
</div>
<div style="text-align: justify; color: #000080;">
<span>Tôi hiểu vì sao Bảo Định Giang dịch mấy câu thơ của Nguyễn Tử Giản đạt và hay đến vậy. Và vì sao Phạm Văn Đồng lại dẫn chính bài thơ đó, đoạn thơ đó, bản dịch đó. Vì đây là những tấm lòng đã gặp nhau: một nỗi khắc khoải vì miền Nam ruột thịt đang bị cắt ra khỏi mình Tổ quốc:</span></div>
<p><span style="color: #000080;"><span style="font-style: italic;">&#8220;Đừng cho Hà Bá cười ta</span></span><br style="font-style: italic; color: #000080;" /><span style="color: #000080;"><span style="font-style: italic;">Non sông thế ấy vậy mà gào suông…”</span>.</span></p>
<div style="text-align: justify; color: #000080;">
<span><span style="font-style: italic; font-weight: bold;">3. Trong tôi còn đong đầy những kỷ niệm với nhà thơ Bảo Định Giang</span></span></p>
<p><span>Tôi gặp ông trong ngôi nhà 81 Trần Quốc Thảo (Liên hiệp Các văn học nghệ thuật TPHCM), một người tên tuổi lẫy lừng trong giới văn nghệ sĩ cả nước, một nhịp cầu văn hoá hai miền trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Chàng thanh niên Nguyễn Thanh Danh sớm giác ngộ cách mạng ở tuổi 21. Ngay từ thuở thiếu thời đã vào chùa học chữ Hán, nên trong ông hình thành nhân cách Nho &#8211; Phật, yêu mảnh đất Mỹ Tho nên đã “mượn tên” dòng sông Bảo Định làm bút danh để đời Bảo Định Giang &#8220;Ơi dòng sông nuôi ta khôn lớn/ Xin được từ đây mượn đặt tên…” . Hình ảnh cô tài xế trẻ hằng ngày chở ông đến 81 cùng tách cà phê đen đặc, cạnh những tờ báo lớn nhỏ cả nước đã gây sự tò mò trong tôi. Khi hay tin tôi đến, chú Bảy bắt tay vui vẻ trò chuyện cùng tôi về quãng đời cách mạng nhất là những ngày kề cận làm việc bên Bác Hồ kính yêu cùng những kỷ niệm cùng với các văn nghệ sĩ nổi tiếng cả 2 miền đã được ông lưu giữ và công bố qua tập “Văn nghệ &#8211; một thời để nhớ”.</span></p>
<p><span>Ông tâm sự về hoàn cảnh ra đời hai câu ca dao “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” và những lần vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu: “Một hôm tình cờ tôi gặp đồng chí Lê Duẩn đến họp với Bộ Tư lệnh quân khu. Biết tôi làm Trưởng ban Tuyên truyền, cuối buổi chiều sau khi họp xong, đồng chí nắm tay tôi dẫn ra cái nền còn lại của tháp 10 tầng mà Đốc Binh Kiều đã dựng lên canh gác giặc cuối thế kỷ XIX để dặn dò tôi một số việc. Cuộc gặp gỡ diễn ra đầu năm 1946. Đồng chí dặn tôi mấy ý lớn. Một là, đi tới đâu hòa mình với nhân dân tới đó. Hai là, cổ động mạnh mẽ tinh thần yêu nước của quần chúng. Ba là &#8211; điều này đồng chí dành nhiều thời gian và nhấn mạnh &#8211; nói rõ cho đồng bào biết về cụ Hồ, mà trước đó, chính tôi cũng chỉ hiểu được một ít. Đồng chí mong ước có những bài hát, bài ca dao, bài thơ viết về Cụ Hồ phổ biến sâu rộng trong nhân dân, kể cả lực lượng cầm súng ở địa phương. Tôi lắng nghe ý kiến phân tích sắc sảo của đồng chí Lê Duẩn và rất mừng, may mắn gặp đồng chí trước ngày lên đường… tôi gặp hàng nghìn hàng vạn đóa sen hồng đong đưa trong gió sớm, sao mà đẹp khác thường. Lòng tôi bỗng dấy lên một sự rạo rực khó tả trước một cảnh vật bất chợt, tình cờ, tôi ngẫu hứng ngâm se sẽ:</span></div>
<div style="margin-left: 160px; text-align: justify; color: #000080;"><span><span style="font-style: italic;">“Tháp Mười đẹp nhất bông sen</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”.</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
<div style="text-align: justify; color: #000080;"><span>Bài ca dao này được truyền miệng và in trên sách báo rộng rãi trong vùng Đồng Tháp Mười. Năm 1948, tôi có gởi phái đoàn anh Trần Văn Trà ra tặng Trung ương Đảng một tập ca dao và thơ chép tay, trong tập thơ ấy có bài “Bông sen”.</span></p>
<p><span>Tôi hỏi ông: Chú Bảy là người may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần. Xin cho biết một vài kỷ niệm đáng nhớ nhất về Bác Hồ?</span></p>
<p><span>- Tôi gặp Bác Hồ lần đầu tiên vào năm 1954, ở chiến khu Việt Bắc. Sau khi dự lớp chỉnh huấn ở Liên khu 5, như đã nói trên, tôi ra Việt Bắc, đường đi gian nan vất vả nên tôi phải vào nằm trạm xá. Một hôm, sau bữa ăn sáng, tôi đang đứng trước trạm xá thì thấy Bác đi ngang qua. Bác đi rất nhanh cùng với các cận vệ. Tôi xúc động đứng sững mà nhìn. Bác đang đi thì có một anh không biết ở đâu cầm máy ảnh chạy tới xin chụp hình Bác. Các anh cận vệ tỏ ý không bằng lòng nhưng Bác thuận. Anh chụp hình luống cuống bấm máy liên tục. Bác lắc đầu ôn tồn bảo: chú chụp như vậy là hỏng. Phải bình tĩnh mới được. Để Bác đứng lại cho mà chụp. Người chụp hình không ngờ Bác không phiền mà còn ân cần như thế nên hết sức cảm động. Thái độ bao dung của Bắc đã khắc sâu trong lòng tôi.</span></p>
<p><span>Và tôi còn có dịp chứng kiến nhiều lần tấm lòng độ lượng của Bác. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ ba, đồng chí Nguyễn Lương Bằng giao cho tôi tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ đại biểu trong và ngoài nước. Công phu nhất là vũ hội gồm 4.000 người do anh Thái Ly đạo diễn tại sân vận động Hàng Đẫy sau ngày Đại hội bế mạc. Chương trình diễn ra trong hai tiếng rưỡi. Còn chừng 50 phút nữa thì chấm dứt, anh Trần Duy Hưng, Chủ tịch UBND Hà Nội lúc đó, đến bảo tôi liệu cắt bớt chương trình, sợ Bác mệt. Tôi hứa nhưng không biết tính sao vì các đoàn tập rất công phu và đều muốn diễn báo cáo với Bác. Trong đó lại nhiều đoàn miền Nam tập kết ra Bắc. Cắt thì gay quá! Đợi một lúc thấy tôi không động tĩnh gì, anh Hưng bực, lại xuống chỗ tôi. Tôi nói rõ lý do rồi bàn nên hỏi ý kiến Bác. Không đợi anh trả lời, tôi đi vội lên khán đài. Anh Hưng đành phải theo. Túng quá hóa liều nhưng thực ra bụng tôi lo lắm. Chẳng ngờ nghe xong, Bác quay sang bảo anh Hưng: Chẳng còn bao lâu nữa, cắt e các cháu sẽ buồn!”<sup> 3.</sup></span></p>
<p><span>Khi tôi còn làm việc tại Báo Văn Nghệ, văn phòng miền Nam, ông luôn gọi điện ngợi khen, cũng như góp ý những bài tôi khắc hoạ chân dung trong chuyên mục “Chuyện Văn Chuyện đời”. Hôm nhà thơ Tố Hữu qua đời, ông gọi điện tìm tôi để viết bài thay vì ông đã yếu, khi tôi đến là lúc ông đang đọc cho thư ký viết, trông thấy tôi ông mừng vui và “giao” hết tài liệu để tôi về thể hiện những ý tưởng của ông về kỷ niệm đối với nhà thơ lớn của dân tộc. Sau đó giao cho tôi viết thành tiểu luận để in chung trong tập sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tuyển chọn. Hoàn thành xong ông gởi tôi 300.000 nghìn đồng, dường như vợ ông thấy ít có “nhắc khéo” nhưng ông xua tay, tôi biết bấy nhiêu đó không có gì lớn nhưng ông “trả” nhuận bút ấy là lớn so với nhuận bút của báo Văn Nghệ. Có hôm, chú Bảy trực tiếp đến văn phòng gởi tôi tập sách photo các bài viết của văn nghệ sĩ viết về ông để tôi làm tài liệu, cũng là để sau này in thành tập. Với hai lời đề tặng, một ở bìa ngoài: “Một số bài viết về tôi dành tặng Nguyễn Văn Tý (12/1/2003) và “Bài của anh em viết về các tác phẩm của tôi, xin tặng anh Nguyễn Văn Tý để làm tư liệu (12/12/2003), cùng ký tên Bảo Định Giang. Tôi xem lại khoảng thời gian có sự cách biệt, chắc do ông sức khoẻ yếu nên… đó là cuốn sách dày 188 trang đang ở bản thảo dường như chưa xuất bản ?</span></p>
<p><span>Trong tôi chỉ có điều day dứt mãi, đó là lúc sức khoẻ chú Bảy kém nhiều, những khi cần ông nhờ cháu gái gọi và tôi đến trao tận tay tiểu luận ông đang viết dang dở về Nhiêu Tâm &#8211; nhà thơ trào phúng nổi tiếng ở Vĩnh Long, vì trước đó ông đã viết về Học Lạc, người đồng hương. Cái nợ đó tôi chưa hoàn thành thì ông đã ra đi.</span></p>
<p><span>Được làm “thư ký” nhỏ trong khoảng thời gian ngắn cho bác Bảy cũng là niềm hạnh phúc lớn trong tôi. Khi thực hiện bài viết này, tôi có đến nhà thắp hương và khấn chú Bảy để tôi hoàn thành tâm nguyện ông giao phó. Tôi nhã ý hỏi bác gái, bà chỉ cười nhẹ, có lẽ sau này có điều kiện tôi sẽ tìm nhà xuất bản in cuốn sách trên “Về tác phẩm của Bảo Định Giang” mà sinh thời ông chưa kịp in. Điều đặc biệt, tôi tự hỏi và cũng hiểu rằng, bác Bảy trao tặng tôi “để làm tư liệu” và lại ghi nhầm nhiều lần (kể cả trước đây) “Nguyễn Văn Tý” (nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã phổ bài “Huyền diệu” của ông-NT) phải chăng Bác đã tiên liệu được sau này tôi sẽ viết về Bác, nhất là viết cho Kỷ yếu của vùng đất Mỹ Tho, Tiền Giang nơi ông đã sinh ra và mơ ước: “Dẫu được về quê sống một ngày!”…</span><br />
<span> </span><br />
<span><span style="font-style: italic; font-weight: bold;">4. “Chuyện gậy mây” và quê hương “Mỹ Tho &#8211; niềm thương và nỗi nhớ qua những tháng, năm dài…” được Bảo Định Giang yêu thích nhất<br />
<br style="font-style: italic; font-weight: bold;" /></span></span></p>
<div style="text-align: left; margin-left: 120px;"><span style="font-weight: bold;">“CHUYỆN GẬY MÂY” <sup>4</sup></span></div>
</div>
<div style="margin-left: 120px; color: #000080;"><span><span style="font-style: italic;"><br />
(Gửi anh em văn nghệ giải phóng miền Nam thân yêu)<br />
<br style="font-style: italic;" /></span></span><span><span style="font-style: italic;">“Tiễn bạn đường xa tặng gậy mây</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ta về mang nặng mối tình ai…</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Tay nâng chiếc gậy từ tay bạn</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Lòng những nhớ lòng, tay nhớ tay!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Bạn với ta rày đã cách xa</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đêm nằm vắng bạn gậy bên ta</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ta đi có gậy theo từng bước</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đèo núi dù cao mấy cũng qua!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chiếc gậy bên ta, những tháng năm</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Sinh từ lòng đất Mẹ ta nằm…</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Hướng về quê cũ không nguôi nhớ</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Gió núi trăng rừng nghe thấy chăng?</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Mảnh đất sinh ta tự những ngày…</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Nặc mùi chất độc lẫn hơi cay</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Rừng xưa vẫn giữ màu hoa lá</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Che mát đầu ta những bóng cây!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chiếc gậy bên ta mỗi chữ tên</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">In sâu tình bạn, thuở nào quên</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Vắt cơm xẻ nửa, chăn chung đắp</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ta nhớ thương ai lấy gậy nhìn!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Lưu luyến đưa nhau, dặn mấy lần</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Cố đi lên nhé! Khỏe đôi chân!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ta đi… như cánh chim đầu núi</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chiếc gậy bạn cho:</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chiếc gậy thần!</span></span></div>
<p><br style="color: #000080;" /></p>
<div style="text-align: center;"><span style="color: #000080; font-weight: bold;">Quảng Bình, 22-12-1970</span><br style="color: #000080;" /></div>
<p><br style="color: #000080;" /></p>
<div style="text-align: justify; color: #000080;"><span>Về mảnh đất Mỹ Tho chốn chôn nhau cắt rốn, Bảo Định Giang đã viết bằng cảm xúc của người con không quên quê cha đất mẹ:</span></p>
<p><span>“Từ trận chiến thắng vang dội Rạch Gầm-Xoài Mút diễn ra ở thế kỷ 18, từ những cuộc chiến đấu một mất một còn của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân chống quân xâm lược không cân sức, từ cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, từ cuộc đấu tranh của công nhân ở hãng Xáng Mỹ Tho… cho đến cảnh vật và con người ở trên mảnh đất sinh ra tôi, trong đó có thành phố Mỹ Tho, cưu mang và đùm bọc tôi, nuôi dạy tôi khôn lớn đều là những hình ảnh được khắc hoạ sâu sắc, được mang theo trên các chặng đường, trên các chiến trưởng, trên các địa phương mà đôi chân tôi đã trải qua… <sup>5</sup>.</span></p>
<p><span>Về việc chọn bút danh Bảo Định Giang, ông cho biết: “Câu thơ của một tác giả vô danh viết về anh hùng Nguyễn Hữu Huân, sau ngày Nguyễn Hữu Huân bị địch đóng gông chở đi bằng thuyền xuôi dòng Bảo Định cho đến Mỹ Tịnh An hành quyết:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify; color: #000080;">
<div style="margin-left: 80px;"><span><span style="font-style: italic;">Đương niên Tho thuỷ ba lưu huyết</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Long đảo thu phong khởi mộ sầu</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">(Sông Tho máu nhuộm đỏ dòng</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Gió sầu hiu hắt cồn rồng chiều thu).</span></span></div>
</div>
<div style="text-align: justify; color: #000080;">
<span>Với lòng biết ơn sâu sắc người anh hùng của xứ sở, hai tiếng “Tho thuỷ&#8221; đi sâu vào tận buồng tim và cân não tôi, buộc tôi phải chọn cái tên Bảo Định Giang đặt cho bút danh của mình trước khi bước vào cuộc kháng chiến. Với tôi đó là lời thề trước ông cha &#8211; đêm giao thừa năm 1946, trên sông Vàm Cỏ Tây.</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify; color: #000080;">
<div style="margin-left: 120px;"><span><span style="font-style: italic;">Ôi, Dòng sông nuôi ta khôn lớn</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Xin được từ đây mượn đặt tên.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Từ thuở xuống thuyền lên máy chém</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ơn người đầu đội mãi không quên!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Nghĩa nước tình nhà hằng để dạ</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Bước đường kháng chiến nặng hai vai.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Trả ơn đời, trả ơn cha mẹ<br />
</span></span><span style="font-style: italic;">Nguyện gắn đời ta với bút này” </span><sup style="color: #000080;"><sub>6</sub></sup><span style="color: #000080;">.</span></div>
</div>
<div style="text-align: justify; color: #000080;"><span>Kỷ niệm lần trở về thăm quê: “Sau ngày miền Nam giải phóng mấy hôm, tôi đi theo máy bay quân đội về thăm quê hương. Khi chiếc ô tô đưa tôi đến ngã ba Trung Lương, tôi yêu cầu lái xe dừng lại mua vài trái mận. Tôi hỏi em gái bán mận: “Đây là chốn nào vậy em?”. Em gái đáp: “Thưa chú, đây là ngã ba Trung Lương!”. Tôi lại hỏi: “Từ đây đến cầu quay Mỹ Tho có xa không?”. Em gái đáp: “Gần lắm chú ạ!”. Tôi lại hỏi: “Chùa Vĩnh Tường nghe nói đẹp lắm, phải không em?”. Em gái đáp: “Lớn và đẹp lắm, chú lên tới đó một lần cho biết!”.</span></p>
<p><span>Khi xe chạy bon bon trên đường nhựa vào Mỹ Tho, nhà văn Võ Trần Nhã, người đi cùng với tôi hôm đó, lấy làm kinh ngạc về các câu hỏi tôi hỏi em bé gái bán mận. Anh nói: “Anh Bảy biết rành Mỹ Tho quá, sao anh còn hỏi, như người mới đi lần đầu vậy?”. Tôi hẹn với anh Nhã mấy phút sau sẽ trả lời về sự thắc mắc của anh. Sau mấy phút, tôi liền ứng khẩu ngâm cho anh Nhã nghe bốn câu thơ này:</span></p>
<p><span>Em gái! Nơi đây là chốn nào?</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify; color: #000080;">
<div style="margin-left: 80px;"><span><span style="font-style: italic;">- Mỹ Tho!</span></span><br style="font-style: italic;" /><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ừ nhỉ, thích nghe sao!</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Biết rồi vẫn hỏi, thương là thế</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Ngọt lịm vườn xưa những mận đào.</span></span><br style="font-style: italic;" /></div>
</div>
<div style="text-align: justify; color: #000080;">
<span>Nghe xong bài thơ, anh Võ Trần Nhã hiểu rõ tâm trạng của tôi, nên chẳng hỏi thêm gì nữa! Hai chúng tôi đều lặng thinh nhìn cây lá, nhà cửa hia bên đường.</span></p>
<p><span>Suốt nhiều năm nay, mỗi lần về Mỹ Tho công tác, hoặc về thăm chùa Vĩnh Trường, tôi đều mang ý nghĩ biết ơn những người suốt mấy mươi năm đã nằm xuống trên đất quê hương. Không có sự hy sinh cao cả ấy thì những người như chúng tôi làm gì có cái hạnh phúc lớn được trở về, được nhìn lại con người và cảnh vật đã hằn sâu trong tâm khảm, từ những giờ phút đầu tiên ra đi. Với những ý nghĩ ấy, lần về Mỹ Tho tháng 4, năm 1992, tôi có làm một bài thơ nhan đề: <span style="font-style: italic;">“Dẫu sống lại một ngày”</span> theo thể Đường luật như sau:</span></div>
<div style="margin-left: 40px; text-align: justify; color: #000080;">
<div style="margin-left: 120px;"><span>T<span style="font-style: italic;">a về ngày ấy đêm vừa biến</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Quê cũ xanh rờn dưới ánh dương.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Cờ đỏ sao vàng vàm Bảo Định</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Cành tươi trĩu quả mận Trung Lương.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Trời cao sáng lại mây Long Đảo</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Chùa vắng ấm lên mõ Vĩnh Trường.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Đất níu chân ta qua mỗi bước</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Những giờ sống lại giữa quê hương.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Dẫu được về quê những phút giây</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Công ai đánh đổi biết bao ngày.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Hầm chui bụi nấp bao nhiêu trận</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Máu chảy, xương phơi biết mấy người.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Cờ đỏ mơ màng trong ngục tối</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Tim son sáng chói giữa đêm dày.</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Trọn đời ơn lớn xin ghi tạc</span></span><br style="font-style: italic;" /><span><span style="font-style: italic;">Dẫu được về quê sống một ngày!”<sup style="color: #000080;"> 7</sup><span style="color: #000080;">.</span></p>
<p></span></span></div>
</div>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #000080;">Vâng, ông đã ra đi vì nghiệp lớn, đã hoàn thành sứ mệnh của một sứ giả văn hoá nghệ thuật trong vai trò nhịp cầu nối liền anh em văn nghệ sĩ hai miền Bắc-Nam. Và chúng tôi tin chắc ông đã trở về quê thật sự, sống mãi trong lòng quê hương, đất nước nhất là nơi có dòng sông Bảo Định và cây trái trĩu quả quanh năm thật quyến rũ lòng người “thương là thế”.</span></div>
<p><span><br />
&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;<br />
</span></p>
<div style="text-align: justify; color: #808080;">(*), (2), (4) Tư liệu tham khảo chính được trích trong “Tuyển tập Thơ văn Bảo Định Giang”, NXB Văn học, 2004.<br />
(1) Trích “Về tác phẩm của Bảo Định Giang”.<br />
(3) Trích trong tập “Tản mạn cùng văn nghệ sĩ miền Nam”, Nguyễn Tý, Nxb Hội Nhà văn, 2006.<br />
(5), (6), (7) Trích “Những năm tháng – cuộc sống tin thần”, Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001.<br />
Nguyễn Tý</div>
<p><span style="color: #808080;"><br />
</span></p>
<div style="text-align: right;"><span style="color: #808080;"> Nguồn: Báo Công an TP Hồ Chí Minh</span></div>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nha-tho-bao-dinh-giang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhà Thơ Hồng Nguyên</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nha-tho-hong-nguyen/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nha-tho-hong-nguyen/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 08:59:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung thi nhân]]></category>
		<category><![CDATA[Hồng Nguyên]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=184</guid>
		<description><![CDATA[1. Tiểu sử:
Nhà thơ Hồng Nguyên tên khai sinh là Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 1924 tại xã Đông Thọ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc từ trước Cách mạng Tháng Tám, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #000080;"><span style="font-weight: bold;">1. Tiểu sử:</span><br />
<br style="color: #000080;" /></span><span style="color: #000080;">Nhà thơ Hồng Nguyên tên khai sinh là Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 1924 tại xã Đông Thọ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc từ trước Cách mạng Tháng Tám, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc Liên khu IV, từng viết bài cho các báo Dân mới, Sáng tạo, Thép mới&#8230; <span id="more-184"></span><br />
<br style="color: #000080;" /></span><span style="color: #000080;">Năm 1951, Nguyên Hồng lâm trọng bệnh và mất tại quê nhà khi ông đang là Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Thanh Hóa.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080; font-weight: bold;">2. Con đường văn chương:<br />
<br style="color: #000080;" /></span><span style="color: #000080;">Hồng Nguyên  sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau, trong đó tiêu biểu là  thơ và tiểu luận văn học.<br />
<br style="color: #000080;" /></span><span style="color: #000080;"> Trong các tác phẩm Hồng Nguyên để lại (<span style="font-style: italic;">Hồn thơ Việt Nam;  Đời anh nông dân vô Nam;   Nhớ; Những khẩu hiệu trong đêm</span>),  bài thơ “ Nhớ” là một bài thơ  tiêu biểu trong các bài thơ viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. <span style="font-style: italic;">&#8220;Nhớ”</span> cũng là bài thơ  ghi dấu ấn phong cách sáng tác thơ Hồng Nguyên.</p>
<p><span style="font-weight: bold;">3. Tác phẩm tiêu biểu</span></p>
<p><br style="color: #000080; font-style: italic; font-weight: bold;" /></span></p>
<div style="margin-left: 40px;">
<div style="margin-left: 160px;"><span style="color: #000080;"><span style="font-style: italic; font-weight: bold;">Nhớ</span></span><br style="font-style: italic; font-weight: bold;" /></div>
</div>
<p><span style="color: #000080;"><br style="color: #000080;" /></span></p>
<div style="margin-left: 200px;"><span style="color: #000080; font-style: italic;">Lũ chúng tôi </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Bọn người tứ xứ, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Gặp nhau hồi chưa biết chữ </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Quen nhau từ buổi &#8220;Một hai&#8221; </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Súng bắn chưa quen, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Quân sự mươi bài </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Lòng vẫn cười vui kháng chiến </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Lột sắt đường tàu, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Rèn thêm gao kiếm, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Áo vải chân không, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đi lùng giặc đánh. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Ba năm rồi gửi lại quê hương. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Mái lều gianh, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Tiếng mõ đêm trường, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Luống cày đất đỏ </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Ít nhiều người vợ trẻ </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Mòn chân bên cối gạo canh khuya </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Chúng tôi đi </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Nắng mưa sờn mép ba lô, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Tháng năm bạn cùng thôn xóm. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Nghỉ lại lưng đèo </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Nằm trên dốc nắng. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">- Đằng nớ vợ chưa? </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">- Đằng nớ? </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">- Tớ còn chờ độc lập </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Cả lũ cười vang bên ruộng bắp, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Tôi nhớ bờ tre gió lộng </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Có tiếng gà gáy xóm, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Có &#8220;Khai hội, yêu cầu, chất vấn!&#8221; </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Trăng lên tập hợp hát om nhà. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Tôi nhớ </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Giường kê cánh cửa, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Bếp lửa khoai vùi </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đồng chí nứ vui vui, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đồng chí mô nhớ nữa, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Kể chuyện Bình &#8211; Trị &#8211; Thiên, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Cho bầy tôi nghe ví, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">- Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đêm đó chúng tôi đi </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Nòng súng nghiêng nghiêng, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Đường mòn thấp thoáng&#8230; </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Trong điếm nhỏ, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Mươi người trai tráng, </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Sờ chuôi lựu đạn. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Ngồi thổi nùn rơm </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Thức vừa rạng sáng. </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni: </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">Dân chúng cầm tay lắc lắc: </span><br style="color: #000080; font-style: italic;" /><span style="color: #000080; font-style: italic;">&#8220;Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!&#8221;</span><br style="color: #000080;" /></div>
<div style="text-align: right;"><span style="color: #808080;"><br />
</span></div>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nha-tho-hong-nguyen/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cứ Ngỡ &#8211; Nguyễn Văn Tâm</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/cu-ngo-nguyen-van-tam/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/cu-ngo-nguyen-van-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 08:56:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thi phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt Nam hiện đại]]></category>
		<category><![CDATA[Cứ ngỡ - Nguyễn Văn Tâm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=181</guid>
		<description><![CDATA[con cứ ngỡ rằng con đã     lớn khôn
nhưng hóa ra ba vẫn còn thơ trẻ
mẹ đi chợ đường xa nhà bỗng dưng vắng vẻ
mấy cha con trưa ngóng mẹ trước sân nhà
con cứ ngỡ rằng con đã lớn khôn
nhưng hóa ra mẹ cũng còn thơ trẻ
ngoại ở quê ghé nhà thăm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">con cứ ngỡ rằng con đã     lớn khôn<br />
nhưng hóa ra ba vẫn còn thơ trẻ<br />
mẹ đi chợ đường xa nhà bỗng dưng vắng vẻ<br />
mấy cha con trưa ngóng mẹ trước sân nhà</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">con cứ ngỡ rằng con đã lớn khôn<br />
nhưng hóa ra mẹ cũng còn thơ trẻ<br />
ngoại ở quê ghé nhà thăm cháu bé<br />
mẹ ào ra níu áo lục giỏ quà</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">con cứ ngỡ rằng con đã     lớn khôn<br />
nhưng hóa ra ngoại cũng còn thơ trẻ<br />
loay hoay bên hè tiếng bà nhỏ nhẹ<br />
cười hồn nhiên với lũ nhỏ nhà bên</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">rồi một ngày<br />
không còn nghe tiếng cười của ngoại<br />
tóc mẹ bạc, bước chân ba chậm lại<br />
con chợt thấy mình qua tuổi bé con&#8230;</p>
<p>Hòa Thắng, 3.1992<br />
</span><span style="font-family: Times New Roman; color: #008080; font-size: medium;">Nguyễn Văn Tâm</span><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;"><br />
<em>(Những gương mặt thơ mới 2/VN1994)</em></span></p>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/cu-ngo-nguyen-van-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nắng Mới</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nang-moi/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nang-moi/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 08:55:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thi phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt Nam hiện đại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=178</guid>
		<description><![CDATA[
Lưu Trọng Lư



.
mỗi lần nắng mới hắt bên     song
xao xác gà trưa gáy não nùng
lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
chập chờn sống lại những ngày không
tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
lúc người còn sống tôi lên mười
mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
áo đỏ người đưa trước dậu phơ
hình [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;"><br />
</span><span style="font-family: Times New Roman; color: #008080; font-size: medium;">Lưu Trọng Lư</span></p>
<table border="0" cellspacing="10" cellpadding="2">
<tbody>
<tr>
<td bgcolor="#008080"><span style="font-family: Times New Roman; color: #008080; font-size: medium;">.</span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">mỗi lần nắng mới hắt bên     song<br />
xao xác gà trưa gáy não nùng<br />
lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng<br />
chập chờn sống lại những ngày không</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời<br />
lúc người còn sống tôi lên mười<br />
mỗi lần nắng mới reo ngoài nội<br />
áo đỏ người đưa trước dậu phơ</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: Times New Roman; color: #0000ff; font-size: medium;">hình dáng mẹ tôi chửa xóa     nhoà<br />
hãy còn mường tượng lúc vào ra<br />
nét cười đen nhánh sau tay áo<br />
trong ánh trưa hè trước dậu thưa</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; color: #008080; font-size: medium;">Lưu Trọng Lư</span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/nang-moi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chùm thơ thu của Đông hòa Nguyễn Chí Hiệp</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/chum-tho-thu-cua-dong-hoa-nguyen-chi-hiep/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/chum-tho-thu-cua-dong-hoa-nguyen-chi-hiep/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 08:50:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thi phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt Nam hiện đại]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Chí Hiệp]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=176</guid>
		<description><![CDATA[Mùa thu em lấy chồng xa
Lấy chồng từ độ thu sang
Áo hoa em bước theo chàng gá duyên
Rộn ràng chân đã lên thuyền
Xa dòng ngã bảy xuôi miền Hậu Giang
Từ đây cách biệt quan san
Chỉ còn chung bóng trăng vàng mà thôi
Đêm về nhìn chiếc lá rơi
Lòng đâu thương nhớ đến người năm xưa
Bên thềm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="margin-left: 40px;"><span><span style="font-weight: bold; color: #0000ff;">Mùa thu em lấy chồng xa</span><br style="font-weight: bold; color: #0000ff;" /><br />
<span style="color: #000080;">Lấy chồng từ độ thu sang<br />
Áo hoa em bước theo chàng gá duyên</p>
<p>Rộn ràng chân đã lên thuyền<br />
Xa dòng ngã bảy xuôi miền Hậu Giang</p>
<p>Từ đây cách biệt quan san<br />
Chỉ còn chung bóng trăng vàng mà thôi</p>
<p>Đêm về nhìn chiếc lá rơi<br />
Lòng đâu thương nhớ đến người năm xưa</p>
<p>Bên thềm đón gió ban trưa<br />
Trao lời tâm sự cho vừa lòng nhau</p>
<p>Cuộc đời lắm chuyện bể dâu<br />
Hôm này chia cách mùa ngâu nhớ tình</p>
<p>Nàng ơi , duyên cách biệt mình<br />
Làm sao gặp lại bóng hình thương yêu &#8230;.<br />
</span></span><br style="color: #000080;" /></p>
<div style="margin-left: 120px;"><span style="color: #808080; font-style: italic;">27.08.2009</span></div>
<p><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #0000ff;"><span style="font-weight: bold;">Mùa thu em lại nhớ chồng</span></span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Thu về em nhớ đến chồng</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Màn đêm hoang vắng lá thông rơi đầy</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Tình ơi , ngăn cách ngàn mây</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Niềm đau vừa chín đọng đầy giấc mơ</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Bên song một thoáng hững hờ</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Trái tim văng vẳng tiếng thơ vọng sầu</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Bây giờ chàng ở nơi đâu</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Có hay em thức canh thâu đợi người</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Lệ buồn sao cứ mãi rơi</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Ướt trên đôi má đã vơi sắc hồng</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Ngày mai đón lại gió đông</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Khuê phòng lạnh lẽo bởi không thấy chàng</span><br style="color: #000080;" /><br style="color: #000080;" /></p>
<div style="margin-left: 120px;"><span style="color: #808080; font-style: italic;">23.08.2009</span><br />
<br style="color: #000080;" /></div>
<p><br style="color: #000080;" /><span style="color: #0000ff;"><span style="font-weight: bold;">Mùa thu hạnh phúc với chồng</span></span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Mùa thu em ngủ bên chồng</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Trăm năm đã kết tơ hồng đời nhau</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Nhìn chồng em nhớ nao nao</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Thuở ngây thơ ấy lòng nào có thương</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Tân hôn nước mắt lưng tròng</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Nhớ người yêu trước chẳng còn lối chung</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Người ơi , ở chốn mông lung</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Hãy quên tình cũ vui cùng tháng năm</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Mùa thu nhặt lá âm thầm</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Nửa đời hoa mộng cõi trần vẫn trôi</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Đêm nay nghe giấc ngủ lơi</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Bên chồng hạnh phúc tuyệt vời làm sao &#8230;.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Đông hòa Nguyễn Chí Hiệp</span><br />
<br style="color: #808080; font-style: italic;" /></div>
<div style="text-align: left; margin-left: 160px;"><span style="color: #808080; font-style: italic;">23.08.2009</span></div>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/chum-tho-thu-cua-dong-hoa-nguyen-chi-hiep/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chiếc lá thu phai &#8211; Lê Minh Dung</title>
		<link>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/chiec-la-thu-phai-le-minh-dung/</link>
		<comments>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/chiec-la-thu-phai-le-minh-dung/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 08:48:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>NgocNB</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thi phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt Nam hiện đại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietnamrank.com/thovietco/?p=159</guid>
		<description><![CDATA[Về đâu chiếc lá thu phaiChiều rơi lãng đãng, mắt nai mơ màng. Về đâu sương trắng ngày đôngBao tha thiết, cũng mênh mông theo mùa! Về đâu ngày với hư khôngChiều phai nắng gió tơ hồng ngại vương Thôi về thăm lá diêu bôngMặc cho con tạo phiêu bồng nhân gian!


]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><span id="nmctl_ctr542_ArticleList_ctl00_productDetail"><span style="color: #000080;">Về đâu chiếc lá thu phai</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Chiều rơi lãng đãng, mắt nai mơ màng.</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Về đâu sương trắng ngày đông</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Bao tha thiết, cũng mênh mông theo mùa!</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Về đâu ngày với hư không</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Chiều phai nắng gió tơ hồng ngại vương</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;"> </span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Thôi về thăm lá diêu bông</span><br style="color: #000080;" /><span style="color: #000080;">Mặc cho con tạo phiêu bồng nhân gian!</span></span></p>
<input id="gwProxy" type="hidden" />
<input id="jsProxy" onclick="jsCall();" type="hidden" />
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietnamrank.com/thovietco/2009/10/21/chiec-la-thu-phai-le-minh-dung/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
