Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến

1.Tiểu sử:
Read the rest of this entry »
Nhà thơ Hữu Ước

1. Tiểu sử
Ông tên thật là Nguyễn Hữu Ước, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1953 tại xã Tiên Tiến, huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên.
* Nhập ngũ năm 1970, là bộ đội biên phòng.
* Cựu sinh viên Đại học báo chí. Năm 1983 là Trưởng phòng biên tập Thời sự – Chính trị Báo Công an nhân dân. Read the rest of this entry »
Nhà thơ, nhà văn Thanh Tâm Tuyền
Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) là một nhà thơ, nhà văn gốc Việt nổi tiếng như một trong những người khai sáng của lối thơ mới trong Nam bằng tập thơ thể tự do đầu tiên ở Miền Nam Việt Nam. Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, ông sinh ngày 13 tháng 3 năm 1936 tại thành phố Vinh, Nghệ An và mất ngày 22 tháng 03 năm 2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ do ung thư phổi. Read the rest of this entry »
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn

I. Tiểu sử:
Phan Thị Thanh Nhàn sinh năm 1943 tại Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Chị làm thơ sớm, từ đầu những năm 1960 đã có thơ đăng báo. Năm 1969, bài thơ “Hương thầm” của chị đoạt giải nhì trong cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Phan Thị Thanh Nhàn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội trong giai đoạn 2001-2005. Ngoài làm thơ, chị còn viết báo, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi. Phan Thị Thanh Nhàn kết hôn với nhà thơ Thi Nhị,nhưng hạnh phúc chưa trọn vẹn thì chồng chị vĩnh viễn ra đi khi chị mới 32 tuổi . Một mình chị chống chọi với bao nỗi cô đơn, tần tảo nuôi con gần 30 năm mà chị vẫn vui vẻ, khiêm nhường.Hiện nay, chị đang sống cùng con gái duy nhất tại Hà Nội. Read the rest of this entry »
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi
I. Tiểu sử
Nguyễn Đình Thi thuộc thế hệ các nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông viết sách khảo luận triết học, viết văn, làm thơ, soạn nhạc, soạn kịch, viết lý luận phê bình. Ông được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc. Từ năm 1958 đến năm 1989 làm Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật.
Ông mất năm 2003 tại Hà Nội.
II. Các tác phẩm đã xuất bản:
• Xung kích (1951)
• Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957)
• Vào lửa (1966)
• Mặt trận trên cao (1967)
• Vỡ bờ (tập I năm 1962, tập II năm 1970)
2. Tiểu luận
• Mấy vấn đề văn học (1956)
• Công việc của người viết tiểu thuyết (1964)
3. Thơ
• Người chiến sỹ (1958)
• Bài thơ Hắc Hải (1958)
• Dòng sông trong xanh (1974)
• Tia nắng (1985)
• Đất nước (1948- 1955)
4. Kịch
• Con nai đen
• Hoa và Ngần
• Giấc mơ
• Rừng trúc
• Nguyễn Trãi ở Đông Quan
• Tiếng sóng
5. Nhạc
• Người Hà Nội
• Diệt phát xít
III. Giới thiệu một số thi phẩm:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm lá vẫn rơi đầy
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ đứa lột da
Xiềng xích chúng bay không khoá được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội
Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Giũ bùn đứng dậy sáng loà.
(1948- 1955)
Nhớ
Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây.
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn.
Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau cháy bỏng làm người.
Lá đỏ
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường như quê hương
Vai ác bạc quàng súng trường.
Ðoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa.
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn.
Em vẫy cười đôi mắt trong.
(Trường Sơn, 12/1974)
Nguyễn Bính cưới vợ lần thứ hai như thế nào?

Từ năm 1949, nhà thơ Nguyễn Bính thường đi về vùng Cà Mau công tác. Lúc này ông ở cơ quan Hội Văn nghệ kháng chiến Nam bộ (tại Khu 9). Ông là cán bộ sáng tác, phục vụ công tác tuyên truyền. Do công việc, ông cũng thường hay lui tới nhà cô Mai Thị Mới ở ấp Hương Mai, xã Khánh Lâm, huyện U Minh. Cô Mới năm đó 18, 19 tuổi (quê ở Bến Tre) theo người cha là một cán bộ cách mạng được điều động về hoạt động ở vùng Cà Mau. Sau này thi sĩ ngỏ lời cầu hôn với người con gái đẹp xứ dừa, nhưng cha mẹ cô Mai Thị Mới chỉ đồng ý với điều kiện phải có giấy ly hôn. Vì trước đó, nhà thơ đã có vợ là cô Hồng Châu, họ đã chung sống và có nhà cửa, vườn rẫy ở Huyện Sử, Thới Bình nhưng đã chính thức ly hôn.
Read the rest of this entry »
Giai thoại nhà thơ Bùi Giáng
Read the rest of this entry »
Nữ sĩ Anh Thơ: Oái ăm đường tình

Chuyện tình của các nữ thi sĩ Việt Nam cũng có nhiều điều lạ. Trong đó, trường hợp của nữ thi sĩ Anh Thơ phải gọi là… rất lạ, bởi nó không chỉ là trái ngang, là đau đớn, mà còn đẩy “nạn nhân” vào những tình thế hết sức oái oăm, khiến bà lắm lúc chỉ còn biết ôm đầu mà thở than “Cho hay muôn sự tại trời…”. Read the rest of this entry »
Nhà thơ Thu Bồn học ngoại ngữ
Nhà văn Thu Bồn quê ở Quảng Nam, nơi có con sông Thu Bồn nên ông chọn tên sông quê làm bút danh. Ông sinh năm 1935 thì năm 1948, mới 13 tuổi đã nhập ngũ, tuổi trẻ gắn bó với các chiến trường nên không có điều kiện để học ngoại ngữ, còn “nội ngữ” (như ông thường bảo) thì thông thạo nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Khi trường ca “Bài ca chim Chơ Rao” được giải thưởng của Hội Nhà văn Á Phi, ông được mời sang một nước ở châu Phi để nhận giải thưởng. May mắn cho Thu Bồn là có nhà văn Phan Tứ, một người thông thạo 5 ngoại ngữ, cùng đi. Việc nhận giải thưởng và phát biểu không thành vấn đề, vì Thu Bồn nói gì thì đã có Phan Tứ dịch hết, ý kiến của Thu Bồn bao giờ cũng đặc sắc, nên được mọi người hoan hô như sấm dậy cùng những đôi mắt long lanh, thán phục của các cô gái.
Sau khi hội nghị kết thúc, mọi người túm năm, tụm ba chờ bữa liên hoan. Thu Bồn đang đứng nghe Phan Tứ trò chuyện với các nhà văn Á Phi, thì bỗng có một cô gái người Arập “đẹp như hoa hậu” đến cười với Thu Bồn và tỏ ý muốn bắt chuyện, nên cầm tay dắt anh đứng riêng ra một chỗ. Trước hết, cô ta dùng tiếng Anh hỏi:
- Anh có biết nói tiếng Anh không?
Thu Bồn trả lời là “không!” nhưng bằng tiếng Pháp là “non“.
Cô gái tưởng Thu Bồn thạo tiếng Pháp nên chuyển sang nói chuyện bằng tiếng Pháp, Thu Bồn chỉ cười rất tươi mà không nói gì. Cô gái chuyển sang dùng tiếng Tây Ban Nha, Thu Bồn vẫn thế, với nụ cười thường trực. Cô gái liền rút lấy quyển sổ mà Thu Bồn đang cầm, viết mấy dòng bằng tiếng Anh, nội dung như sau:
“Thu Bồn yêu quý! Em rất muốn nói chuyện với anh, nhưng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha… anh đều không biết. Em đành thôi vậy. Chào anh!”.
Viết xong, cô gái trả lại quyển sổ cho nhà văn Thu Bồn, bắt tay rồi rời đi nơi khác.
Thu Bồn trở về nước kể chuyện này cho anh em ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội nghe, và không quên “trình” mấy dòng ngắn ngủi của cô gái, và kết luận:”Ngoại ngữ quan trọng thật, vì không biết ngoại ngữ mà bỏ mất những bàn thắng trông thấy. Phen này phải học ngoại ngữ mới được!”.
Thế rồi Thu Bồn xin nhà thơ Vũ Cao, Chủ nhiệm tạp chí cho đi học lớp tiếng Anh tập trung ở Trường đại học Ngoại ngữ ở Thanh Xuân. Nhưng vì cao tuổi, lại bản tính phóng túng, chỉ học tập trung được mấy tuần, Thu Bồn đã trở về báo với cơ quan là không đi học nữa vì lý do:
Với một số chữ đã biết thì không học cũng biết, ví như chữ cắt của ta thì tiếng Anh cũng chỉ là cắt (cut), còn muốn đọc cái bàn (table) thì chỉ cần nói Thu Bồn cũng đạt rồi!
Lý do thứ hai Thu Bồn nêu ra để nói rằng, kể cho cùng, ngoại ngữ cũng chẳng cần thiết là mấy, bằng chứng là lần ấy khi trên đường về nước, anh cùng nhà văn Phan Tứ có dừng lại ở Moskva và cả hai đi siêu thị mua sắm. Khi vào siêu thị, hai người hẹn nhau sẽ tự do đi chọn hàng, sau nửa tiếng đồng hồ sẽ gặp nhau ở cửa để trở về. Sau nửa tiếng, hai tay Thu Bồn xách hai làn đầy, trả tiền rồi đứng chờ Phan Tứ ở cửa. Chờ rất lâu mới thấy Phan Tứ xách làn không trở ra. Thu Bồn ngạc nhiên hỏi:
- Trời ơi, 5 loại ngoại ngữ của anh để làm gì mà một tiếng đồng hồ không mua nổi một thứ gì? Còn tôi đây! - Thu Bồn chỉ số hàng của mình – Toàn dùng tay chỉ, không nói một lời nào mà mua nhanh như máy!
Phan Tứ xem hàng của Thu Bồn, hỏi giá, khen rẻ và nhờ Thu Bồn dẫn đi. Đến quầy hàng, mặc dù tiếng Nga rất giỏi, nhưng ông cũng thấy không cần phải nói, mà nhờ Thu Bồn mua hộ theo cách… im lặng chỉ!
Nghe Thu Bồn kể lại chuyện này, nhà thơ Vũ Cao cười ha ha:
- Thế hôm cô gái Arập muốn bắt chuyện, sao ông không chỉ trỏ để cô ấy biết ý mình?
Thu Bồn lại mỉm cười rất tươi mà không trả lời!
Vì yêu người lắm mới say thơ
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”…
(Tiếng thu)
Dù không phải đang mùa thu, nhưng ngẫu cảm về một “Tiếng thu” thinh không, mở rộng biên độ trí tưởng về một miền thơ, một nền thơ thuần khiết; một sáng nọ tôi đã “lò mò” đến ngôi nhà vườn xinh xắn của nhà thơ – nhà báo Lưu Trọng Văn – người đang giữ hầu như toàn bộ tư liệu và kỷ vật của cha ông – nhà thơ Lưu Trọng Lư. Một căn nhà trắng xinh xắn, có những ô cửa mở trông ra khu vườn. Một khu vườn rộng gần tám trăm mét vuông có nhiều cây cỏ, lá hoa.
Tôi không giấu nổi thích thú của mình. Còn anh Văn thì chợt đọc hai câu thơ: Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ/ Vì yêu người lắm mới say thơ… Là thơ Lưu Trọng Lư đấy; mà đấy cũng là “châm ngôn nghệ thuật” của đời ông! Một cuộc đời đầy sóng gió, nhưng cũng thật đẹp theo đúng nghĩa đời một thi sĩ!
Nhà thơ Lưu Trọng Lư sinh ngày 19/6/1911 tại Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Đấy là một vùng đất nằm ở phía nam bờ sông Gianh nơi có sông và núi đồi rất đẹp. Bố ông là một nhà Nho, có mối quan hệ thâm giao với những người yêu nước. Vì bất mãn chế độ phong kiến, nên đang làm quan tri huyện, khi về thọ tang cha mẹ, ông bỏ quan luôn, ở nhà dạy học. Ngay từ nhỏ, Lưu Trọng Lư đã được bố hướng theo con đường Nho học và làm thơ theo khuôn mẫu. Nhưng tính Lưu Trọng Lư vốn nghịch ngợm, ưa thích những điều khoáng đạt, mới mẻ.
Sau này, ông có kể với Lưu Trọng Văn rằng: “Hồi đó mỗi lần ông nội con nói chuyện thơ thường bắt bố đứng gãi lưng. Nhưng bố không thích nghe, chỉ thích được tếch đi chơi với lũ trẻ chăn trâu. Thế là bố “giở chiêu”… gãi thật mạnh vào lưng cụ. Ông cụ đau quá, đuổi bố đi. Bố chạy như bay ra ngoài cánh đồng với đám trẻ chăn trâu!…”.
![]() |
| Vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư cùng các con (chụp ở hiệu ảnh trên đường Nguyễn Thái Học năm 1963). |
Ám ảnh bởi những cái siêu hình, ngay từ bé, Lưu Trọng Lư đã thích nằm xuống cỏ xanh, ngước mắt nhìn những đám mây trắng phiêu du trên bầu trời. Rồi cậu bé tự hỏi. Sau những đám mây kia là cái gì? Và cái gì ở phía trên cao kia nữa?… Những câu hỏi như thế cứ đẩy đi mãi không thôi. Anh Văn còn kể, bàn tay của bố anh có “từ trường” mạnh lắm. Hồi học ở Liên Xô, anh thường mua bút bi gửi về cho cụ. Nhà thơ Lưu Trọng Lư rất thích bút mực màu xanh. Nhưng, cây bút bi nào tốt đến mấy, cụ cầm viết một lúc là… mực chảy tèm lem. Sau này, có một bác sĩ nói là, cụ có một “từ trường” rất mạnh, khá đặc biệt.
Lưu Trọng Lư mất ở Hà Nội ngày lập thu 1/7/1991, an táng tại Văn Điển. Năm năm sau, người con là nhà thơ – nhà báo Lưu Trọng Văn “tậu” được mảnh vườn rộng ở TP HCM nên đưa di hài cha vào, hỏa táng rồi đặt trong vườn nhà, coi như là đáp ứng di nguyện của người cha. Thực ra di nguyện đó chẳng nằm trong tờ di chúc hay lời trăng trối nào cả, mà đấy là tâm tư được gửi trong bài “Miếng đất”: “Tôi nào mơ nhà cao cửa rộng/ Chỉ xin dăm thước đất/ Mần cái ao nhỏ/ Đêm nằm mơ con mè con trắm chơi trăng/ Thảo lòng, trồng sống được vài cây để năm 2000 chăng chớ/ Vào tay áo này được đón gió ngàn khơi…”(Thơ di cảo).
Năm 1998 thì bà Mừng qua đời. Theo di nguyện, thi hài bà cũng mang đi hỏa táng và đem về đặt “nằm sóng đôi” bên người chồng. Anh Văn kể một câu chuyện nghe thật xúc động. Đó là khi mẹ mất được vài ngày, trong một lần soạn lại đồ đạc cũ, anh nhặt được một chiếc nhẫn vàng có khắc hai chữ L-M lồng vào nhau. Anh đã mang chiếc nhẫn ấy về Huế, trở lại những nơi trước đây mà cha mẹ anh đã đi qua. Mỗi nơi đến, anh đặt chiếc nhẫn xuống rồi chụp hình, coi như nhờ đất trời chứng giám cha mẹ anh đã từng yêu nhau, cưới nhau!…
Anh Văn cũng kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động về bức thư pháp chữ Hán viết hai chữ Tiếng thu của một người đàn ông ở Hàng Khay (Bờ Hồ, Hà Nội). Đó là vào một ngày lập thu năm 2001, Lưu Trọng Văn đang uống cà phê ở một cái quán trên đường Hàng Khay. Một cái quán đẹp, mang không khí của Hà Nội xưa. Trong quán có treo những bức trướng, liễn; chữ viết rất đẹp, có hồn. Tò mò, Lưu Trọng Văn hỏi về chủ nhân của bức thư pháp ấy, thì người chủ quán cho biết người viết ấy là ông nội của một cô bé ở gần đây. Nói rồi người chủ quán cho địa chỉ.
Nguồn: Công An Nhân Dân
